GIÁO XỨ

Để Họ Lớn Lên: Tự Do, Trách Nhiệm Và Đối Thoại Huynh Đệ

 

 

§11 - TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM 

Trong lãnh vực xã hội – chính trị, hai chữ tự do hầu như ẩn chứa một sức mạnh thần thoại. Nó vừa là ước vọng sâu thẳm của con người, vừa là lẽ sống và lý tưởng tranh đấu của biết bao nhiêu thế hệ. Bao nhiêu người và bao nhiêu dân tộc đã hy sinh tất cả, kể cả mạng sống, để dành lấy tự do. Nhưng trải qua dòng lịch sử, người ta lại thường nhân danh tự do để làm tất cả những gì phi nhân, phi đạo đức và phi tự do nhất. Bà Manon Rolland, một nạn nhân của cuộc cách mạng Pháp, đã kêu lên : «O liberté, que de crimes on commet en ton nom !” (Ôi tự do, nhân danh ngươi, người ta đã phạm bao nhiêu trọng tội !) 
Phải chăng tự do là món quà quý giá nhất mà Thượng đế đã trao tặng con người hay là một nghiệp chướng bi đát nhất của đời người ? Có người đề nghị nên quan niệm tự do như một chiếc bình rất quý, nhưng cũng rất mong manh và dễ vàỡ. Ra như con người chỉ có thể cảm nghiệm được ý nghĩa tròn đầy của tự do khi thực sự là con người trưởng thành, có nội lực và bản lãnh. Chính vì vậy, cần nối kết tự do và xác tín với chiều kích trách nhiệm. 

1- Tự do chọn lựa
Theo tư tưởng cổ điển, tự do chọn lựa là khả năng căn bản của con người để quyết định về hành vi và định hướng của đời người. Mặc dù là một hữu thể xã hội, chịu ảnh hưởng sâu đậm của một thời đại và một nền văn hoá nhất định nào đó, con người vẫn không thể hoàn toàn bị lệ thuộc vào những sức mạnh tất định của thiên nhiên hay của xã hội. Trong mọi trường hợp chúng ta vẫn còn khả năng chọn lựa và đây chính là một trong những nét tiêu biểu nhất của con người. 
Tự do chọn lựa được thể hiện qua ba khả năng sau đây : muốn hay không muốn, chọn lựa cái này thay vì cái khác, ngay cả trường hợp chọn cái tốt hoặc cái xấu. Do đó, con người phải trách nhiệm về những hành vi mình đã thực hiện với ý thức, tự do và ý chí [184]
Theo nguyên tắc đạo đức, mỗi người có quyền được nhìn nhận như một hữu thể tự do và có trách nhiệm. Đây là một quyền bất khả phân ly với phẩm giá con người và mọi người có bổn phận phải tôn trọng. Chính nhờ nó, con người có thể chọn lựa những gì mình cho là tốt và định hướng cho tương lai, bất chấp những áp lực của xã hội và đòi hỏi của bản năng. Nhiều người coi đây là một giá trị lớn lao và cao cả nhất, nhưng đồng thời cũng là một thách đố đầy cam go. 
Tự do càng hoàn hảo thì chủ thể càng xa tập quán xấu và càng gần chân, thiện, mỹ. Thật vậy, khi chúng ta không bị nô lệ bởi những đam mê xấu, nhưng lại có nhiều khả năng để hành thiện và cương quyết nói không trước sức quyến rũ của tiền tài, danh vọng, sắc dục… thì chúng ta càng tự do. Càng chọn lựa theo lý tưởng và quy tắc đạo đức, con người càng tự do hơn. Như vậy, nhờ ý chí tự do, con người lớn lên và trưởng thành trong nhân cách, chân lý và đạo đức. 
Đối với Công đồng Vàtican II, “tự do đích thực là một dấu chỉ độc đáo về hình ảnh Thiên Chúa nơi con người. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn con người tự quyết định để tự mình kiếm tìm Đấng Tạo Hoá và nhờ kết hiệp với Ngài một cách tự do, con người đạt tới hạnh phúc viên mãn. Như vậy phẩm giá của con người đòi hỏi con người phải hành động theo sự chọn lựa ý thức và tự do, cân nhắc kỹ lưỡng và quyết định do xác tín cá nhân, chứ không bởi sức thúc đẩy của bản năng hay sức cưỡng chế ngoại tại. Con người đạt tới phẩm giá này, khi giải thoát khỏi nô lệ của đam mê, bằng hành động chọn lựa một cách tự do sự thiện, con người tiến về mục tiêu và cẩn thận tìm những phương tiện thích ứng. Vì tự do nhân loại đã bị tội lỗi làm tổn thương, cho nên phải nhờ ân sủng trợ giúp mới có thể hướng về Thiên Chúa một cách hiệu quả và trọn vẹn ” [185]
Tự do vừa là một hồng ân, vừa là kết quả của một quá trình đấu tranh gian khổ và là quyền căn bản của con người. Việc sử dụng tự do thuộc về nhân quyền và không thể tách rời khỏi phẩm giá con người. Tuy nhiên, không hề có tự do tuyệt đối trên cõi đời này. Cũng chẳng ai có thể sử dụng quyền tự do của mình một cách vô trách nhiệm, bất chấp luật lệ, quy tắc đạo đức và quyền lợi của người khác. 
2- Các quyền tự do và phong thái tự do
Đứng trên phương diện lịch sử, có những quyền tự do về chính trị, xã hội và kinh tế như hôm nay là một thành công lớn lao của quá trình tranh đấu chính trị gian khổ, đầy máu và nước mắt. Phải mất nhiều thiên niên kỷ, con người mới chế ngự được sức mạnh mù quáng của thiên nhiên để làm chủ trái đất. Nhân loại cũng đã hao tổn rất nhiều xương máu mới xây dựng được một xã tiến bộ, công bằng, dân chủ… như hôm nay. 
Trên bình diện xã hội và chính trị, việc lật đổ quyền thống trị của các thể chế độc tài để khai sinh xã hội công dân là một tiến trình tiệm tiến và gian nguy. Chế độ dân chủ, chẳng hạn, mặc dù khai sinh ở Athène ngày xưa và được phát triển qua những cuộc cách mạng đẫm máu ở thế kỷ XVIII – XIX, thế nhưng vào năm 1900 vẫn chưa có nước nào triệt để áp dụng phổ thông đầu phiếu. Lúc đó, tại khắp nơi, người ta vẫn tiếp tục từ chối quyền bầu cử đối với nhiều thành phần trong xã hội, đặc biệt nữ giới và sắc tộc thiểu số. Nhưng với dòng thời gian, tiến trình dân chủ ngày càng lớn mạnh. Một thế kỷ sau, khi nhân loại bước sang thiên niên kỷ thứ 3, thì 139 nước đã chấp nhận hệ thống phổ thông đầu phiếu và chế độ đa đảng. Tiến trình nới rộng dân chủ thường được thực hiện một cách tiệm tiến như sau : từ thành phần tư sản tiến đến thành phần vô sản, từ tầng lớp có học xuống đến những người vô học, từ nam giới đến nữ giới, từ sắc tộc chiếm đại đa số đến sắc tộc ít người… 
Dĩ nhiên không thể đồng hoá tiến trình dân chủ hoá với phát triển kinh tế, tuy nhiên giữa hai bên có một tương quan khá chặt chẽ. Hầu như phát triển kinh tế là một tiền đề cần thiết cho tiến trình dân chủ hoá. Norberto Bobbio nhận định : “Lý tưởng tự do và tiến trình dân chủ thường quyện lẫn với nhau đến độ quả thật các quyền tự do là điều kiện cần thiết cho việc áp dụng các quy luật của trò chơi dân chủ, nhưng mặt khác tiến trình phát triển dân chủ là phương tiện chính nhằm bảo về các quyền tự do. Hôm nay, chỉ duy những nước theo chiều hướng tự do là những nước dân chủ và cũng chỉ những nước dân chủ mới bảo về nhân quyền : tất cả các nhà nước độc tài trên thế giới thì đồng thời cũng phản tự do và phi dân chủ ”[186]
Xét về phương diện lịch sử, tự do của nhân loại gắn liền với những cuộc tranh đấu bất khoan nhượng để dành lại các quyền tự do căn bản : tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do nghiệp đoàn, tự do đảng phái, tự do tham gia vào sinh hoạt chính trị, tự do chọn nghề nghiệp, tự do kinh doanh, tự do di chuyển, tự do cư trú, tự do phát triển khả năng, tự do chọn bạn đời thích hợp, và.và.. Nếu thiếu vàng những quyền tự do căn bản này thì các tuyên ngôn đẹp đẽ nhất về tự do cũng chỉ là bánh về. 
Ngày nay, những quyền tự do căn bản đó đã là thành phần của nhân quyền. Phủ nhận chúng là đụng chạm đến phần sâu thẳm và thiết thân nhất của con người. Chính vì vậy, các tổ chức nhân quyền luôn luôn kêu gọi các chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng và thực thi các quyền tự do căn bản nói trên. 
Tuy nhiên, xét trên bình diện tâm lý và đạo đức, có các quyền tự do nói trên là cần thiết và quan trọng, nhưng chưa đủ để trở thành con người tự do. Điều cần thiết là làm sao tạo được ý thức, phong thái, văn hoá, nếp nghĩ, nếp sống tự do đích thựcThật vậy, tự do trước tiên là một thái độ sống, một cách thế hiện hữu, một hình thức thể hiện sứ mệnh làm người. Dĩ nhiên, một thái độ sống tự do chỉ thực sự được thể hiện nhờ sự hiện diện của những quyền tự do căn bản. Nếu không có những điều kiện pháp lý, chính trị, xã hội, kinh tế, giáo dục, tôn giáo… cho phép hình thành các quyền tự do căn bản, thì thái độ sống hay cách thế hiện hữu tự do chỉ là ảo tưởng hay là những khẩu hiệu rỗng tuếch. 
Nhưng nếu không có ý thức, thái độ, văn hoá, nếp sống, nếp nghĩ… tự do thì tất cả những quyền tự do nói trên cũng chỉ là chữ chết. Thật thế, sẽ trở nên vô nghĩa khi chúng ta long trọng tuyên bố “tự do ngôn luận” cho những người chưa ý thức được giá trị của nó hay chẳng có khả năng và điều kiện thực hiện ( !). Nếu chúng ta công bố quyền tự do báo chí cho những người mù chữ, đang đói ăn hay bị rối loạn tâm thần thì sẽ mang đến cho họ ý nghĩa hiện thực nào ? 
Chính vì vậy, luôn hiện diện mối tương quan biện chứng giữa các quyền tự do và thái độ tự do. Mức độ tự do của một cá nhân hay của một dân tộc trong việc chọn lựa một nếp sống hay một định hướng tương lai lệ thuộc rất nhiều yếu tố vật chất cũng như tinh thần. Chúng là kết quả của công trình tập thể có ý thức và có tính kế thừa. Nói cách khác, tự do đích thực không thể quan niệm như một sự nhượng bộ hay một món quà từ trời rơi xuống, mà là một đòi hỏi sâu thẳm của nhân vị, đồng thời cũng là thành quả của một quá trình phấn đấu. 
Tự do, xét như là khát vọng sâu thẳm của con người, thì vô giới hạn, nhưng tự do hiện thực của một con người cụ thể lại tuỳ thuộc vào điều kiện chính trị – xã hội – kinh tế. Tự do này luôn luôn có giới hạn, bởi vì trong nhiều trường hợp phải hạn chế tự do của một số người này để đảm bảo tự do của một số người khác. Xã hội dân chủ được xây dựng trên thoả hiệp thực dụng giữa các công ước, cũng như một nối kết chằng chịt giữa tự dovà không tự do. Các công dân của chế độ dân chủ được hưởng tự do bầu cử, có nghĩa là tự do đi bầu và tự do không đi bầu ; đồng thời cũng có quyền tự do phổ biến sự thật, nhưng không có nghĩa là tự do phổ biến tin tức thất thiệt. 
Việc thực thi tự do trong thế giới hôm nay luôn liên hệ đến tình trạng văn hoá, giáo dục, xã hội, chính trị, kinh tế, tâm linh… Kinh nghiệm của các nước cựu XHCN ở Đông Âu cho chúng ta thấy rằng tiến trình đi từ không tự do hay ít tự do đến nhiều tự do… rất nghiệt ngã, chậm chạp và khó khăn. Để tạo môi trường tự do, Hiến Pháp, luật lệ, chế độ chính trị, tổ chức đảng phái… rất cần thiết, nhưng không đủ nếu không gặp được ý thức, ý chí và một bầu khí văn hoá tự do. 
Nói cho cùng, chỉ có tự do đích thực khi mỗi người biết trân trọng tự do của mình và tôn trọng quan điểm, sáng kiến, niềm tin, chọn lựa chính trị của người khác. Người tự do phải là người có thái độ tự do, ý thức được giá trị cũng như giới hạn của nó, đồng thời luôn tôn trọng quan điểm của người và chấp nhận sự hiện diện của một tác nhân tự do khác. Không chấp nhận luật chơi này, rất có thể sẽ rơi vào một trong hai thái cực : tự do phóng túng hay độc tài, độc đoán. 
3- Chiều kích trách nhiệm
Theo nghĩa rộng, trách nhiệm là điều chúng ta bó buộc phải trả lời, phải đảm nhận hay phải lãnh lấy về phía mình tất cả những hậu quả do hành vi của mình trước cộng đoàn và xã hội, chiếu theo những điều kiện đã được luật pháp quy định. 
Trách nhiệm có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Chẳng hạn, khi nói rằng người bị bệnh tâm thần và trẻ nhỏ là những người không có trách nhiệm luân lý thì chữ trách nhiệm ở đây hiểu theo nghĩa chủ quan. Khi nói một người lái xe không chịu trách nhiệm về cái chết của một người tự gieo đầu vào bánh xe của anh ta, thì chữ trách nhiệm phải hiểu theo nghĩa cụ thể. Chúng ta có thể chia thành trách nhiệm khách quan và trách nhiệm chủ quan hay đạo đức. 
a)- Trách nhiệm khách quan : Đây là loại trách nhiệm đối với xã hội và đồng loại về các hành vi bên ngoài. Chúng ta có thể phân tích trách nhiệm nầy dưới bốn loại sau đây : 
Trách nhiệm khế ước : Trách nhiệm này bó buộc chúng ta phải trả lời về hành vi của mình trước xã hội nhân danh các khế ước hay lời cam kết đã ký với tư nhân, với các hiệp hội hay cơ quan công quyền. 
Trách nhiệm dân sự : Loại trách nhiệm này đòi hỏi chúng ta phải trả lời về các hành vi đã gây thiệt hại cho người khác. Trách nhiệm dân sự nhấn mạnh đến việc bồi thường thiệt hại theo điều kiện luật định. Chẳng hạn, khi tài xế gây tai nạn thì chủ xe phải bồi thường cho nạn nhân. 
Trách nhiệm hình sự : Trách nhiệm này đòi hỏi chúng ta phải trả lời về các hành vi phạm pháp. Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ của hành vi mà sẽ có những hình phạt tương xứng : chung thân, biệt xứ, cấm cố hay tù treo. Khi một tài xế cán chết người, chẳng hạn, thì chủ xe phải bồi thường cho nạn nhân, còn tài xế phải ở tù. 
Trách nhiệm trước dư luận : Trách nhiệm này bó buộc phải trả lời cho những hành vi của mình trước dư luận. Sự thưởng phạt của dư luận thường mang tính cách tản mạn, vì bất thành văn, chẳng được xác định minh bạch và không bắt nguồn từ một uy quyền xã hội rõ rệt, nhưng nhiều khi rất khắt khe. 
b)- Trách nhiệm chủ quan hay đạo đức là nhiệm vụ phải trả lời về những hành vi của chúng ta trước lương tâm và trước thực tại siêu Việt. Có những trường hợp chúng ta có trách nhiệm dân sự, nhưng không bị quy trách về phương diện đạo đức ; trái lại, cũng có những lần chúng ta có trách nhiệm đạo đức, mà không bị quy trách dân sự, ví dụ : trường hợp làm gương xấu hay khuyên dụ kẻ khác làm bậy. Nhưng, trên nguyên tắc, sẽ không có trách nhiệm hình sự, nếu không có trách nhiệm chủ quan hay đạo đức. Đối với một bị cáo không có trách nhiệm đạo đức về một hành vi nào đó thì tòa án có thể bắt người ấy thi hành trách nhiệm dân sự về những gì đã gây ra, nhưng không thể trừng phạt như một tội nhân được. 
Trách nhiệm đạo đức là hình thức đích thực nhất của trách nhiệm. Theo nguyên tắc, chúng ta chỉ chịu trách nhiệm về hậu quả của những hành vi đã thực hiện với ý thức và tự do. Chính vì vậy, tất cả những gì giảm thiểu nhận thức và tự do của chúng ta đương nhiên sẽ giảm bớt trách nhiệm đạo đức. Tuy nhiên, sự lầm lẫn về ý hướng không thay đổi được bản tính của hành vi đạo đức, nghĩa là không làm cho một đối tượng xấu trở thành tốt. 
4- Tự do, liên đới và trách nhiệm
Theo quan niệm thông thường, tự do là được giải phóng khỏi những ràng buộc, những giới hạn, những hình thức ức chế và áp lực. Đây là những thứ tự do hiện thực mà nhân loại đã đạt được sau những cuộc đấu tranh gian khổ, đầy mồ hôi, nước mắt và máu. Người ta thường gọi thứ tự do này là “tự do khỏi ràng buộc ” (liberté de). Thứ tự do này mang một ý nghĩa rất quan trọng trong tiến trình làm người : nếu hôm nay chúng ta được hưởng nhiều tự do hơn các thế hệ đi trước, đó là vì cha ông chúng ta đã thành công trong việc loại bỏ một số rào cản và chướng ngại vật của tự do. 
Tuy nhiên, trong cuộc sống trần gian, chẳng bao giờ chúng ta hoàn toàn được tự do khỏi những ràng buộc và giới hạn, vì sống là tương giao, nhập cuộc, dấn thân và liên lụy. Ta có thể tự do với tổ chức này, nhưng lại nối kết hay liên lụy với tổ chức khác. Trong thời đại toàn cầu hóa hôm nay, lệ thuộc và đồng lệ thuộc giữa các quốc gia, các dân tộc và các nền văn hóa đã trở thành một qui luật. Nếu những hình thức áp bức và ràng buộc phản nhân phẩm đang bị đào thải, thì nhiều tương quan chiều ngang, tương giao bình đẳng và đồng lệ thuộc đang hình thành. 
Bên cạnh thứ tự do nói trên, còn một loại tự do khác : tự do để dấn thân, tự do để hiến thân phục vụ (liberté pour).Chiều kích tự do này đặt nổi yếu tố tích cực của ơn gọi và động lực của sứ vụ dấn thân. Tự do ở đây không chú trọng ở quyền lợi của mỗi người để lựa chọn cái này hay cái khác, hoặc làm hay không làm những gì mình muốn, mà là khả năng hy sinh chính tự do của mình vì một lý tưởng cao đẹp hơn. Suốt dọc lịch sử nhân loại, rất nhiều người đã vượt lên trên khuynh hướng thực dụng và cái tôi tiểu kỷ để tự nguyện hy sinh một phần hay trọn vẹn tự do của mình cho niềm tin tôn giáo, cho khoa học, cho dân tộc, cho anh em đồng loại, cho những người bị thiệt thòi hay bị bỏ rơi. 
Chiều kích tự do này giúp con người thể hiện một cách sung mãn ơn gọi và sứ vụ làm người. “Sứ vụ thì khác với công tác. Sứ vụ xuất phát từ ơn gọi, còn công tác lại là một đòi hỏi của nghề nghiệp. Ơn gọi gắn liền với ý nghĩa của cả cuộc đời con người và mở ra tính cách sứ vụ cho đời sống con người. Trong khi đó nghề nghiệp bình thường chỉ là một phương thế kiếm sống và công tác chỉ là một trách nhiệm tương đối so với đòi hỏi của nghề nghiệp, sứ vụ lại gắn liền với ý nghĩa của ơn gọi, ý nghĩa của trọn vẹn cuộc đời. Nói một cách đôn giản, nghề nghiệp thì có “nghỉ hè”, nhưng ơn gọi thì không thể có “nghỉ hè”. Không thể có một tu sĩ tạm “nghỉ hè tu” trong ba tháng, không thể có một người mẹ tạm “nghỉ hè làm mẹ”, hay người cha nào “nghỉ phép làm cha” [187]. Khi sử dụng tự do theo chiều kích này con người có khả năng vượt trên “mọi đòi hỏi thông tục” của tự do, để thanh thản hy sinh ngay chính bản thân vì đại nghĩa. 
Kitô giáo đề cao chiều kích tự do dấn thân  hiến thân phục vụ này. Đức Giêsu đích thực là một người triệt để tự do trước tiền tài, danh vọng, vu lực và thế lực. Ngài dửng dưng trước những cám dỗ và đề nghị của Satan (Mt 4, 1-11). Cũng như nhiều vị giáo tổ khác, Ngài sống thênh thang “vô chấp”, vượt trên những định kiến và khuôn thước chật hẹp của xã hội Do thái đương thời. Giữa một xã hội giai cấp, một tôn giáo và một nền văn hóa “trọng nam khinh nữ”, Ngài long trọng khai mở quyền bình đẳng nền tảng giữa người với người, bất chấp những khác biệt về phái tính, chủng tộc và màu da [188]. Nếu như các tôn sư đương thời không bao giờ thâu nhận nữ đệ tử, thì nữ giới luôn luôn có mặt trong nhóm đồ đệ thân tín của Ngài. 
Nước Trời mà Đức Kitô rao giảng là một tặng vật Thiên Chúa gởi đến cho tất cả mọi người, mọi thành phần xã hội, mọi văn hóa và chủng tộc. Ngài đã thẳng thắn tuyên bố với người thiếu phụ Samaria về kỷ nguyên mới, huynh đệ, đại đồng và bình đẳng : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ người ta thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem (...). Đã đến giờ – và chính lúc này đây – những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Ngài như thế. Thiên Chúa là thần khí và những ai thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Ga 4, 21-24). 
Đức Giêsu sống nhân ái, yêu thương và tôn trọng mọi người, nhất là những người bé mọn, nghèo hèn, cơ cực. Nhưng Ngài không bao giờ khúm núm, quỵ lụy hay khiếp sợ nhà cầm quyền. Trái lại, Ngài mạnh mẽ chống lại mọi hình thức lạm dụng quyền bính và không ngần ngại gọi vụa Hêrôđê là “con cáo già” (Lc 14, 32). Đặc biệt, Ngài nhất quyết không chấp nhận việc thần thánh hóa hay tuyệt đối hóa quyền bính trần gian. Càng không thể đồng hoá quyền bính chính trị với quyền bính tối thượng. Ngài thẳng thắn yêu cầu phải “trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa” (Lc 20,20-26). 
Không ai có thể đóng khung Ngài vào một phạm trù, phe nhóm, khuynh hướng hay đảng phái nào. Ngài sống thênh thang, rộng mở như đất trời bao la, nên Ngài cũng muốn cho các môn sinh bước theo con đường rộng mở đó : “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Mắt đền mắt, răng đền răng.Còn Thầy, Thầy bảo anh em : đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị và má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái nữa (...). Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyên cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Ngài cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,38-39. 43-45). 
Đức Giêsu ý thức rõ rệt sứ vụ cứu độ, con đường khổ giá và cái chết đau thương mà Ngài phải đảm nhận. Nhưng vì yêu thương nhân loại Ngài đã tự nguyện chấp nhận tất cả. Chúng ta không thể quên lời tuyên bố thời danh biểu lộ sự tự do tuyệt đối của Ngài trước cái chết : “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh, và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10, 18). 
Thánh Phaolô coi cuộc đời Đức Kitô là một biểu hiện tuyệt vàời nhất của chiều kích tự do dấn thân  hiến thân phục vụ. Thánh nhân ghi lại một bản văn cựu trào nhất của Kitô giáo để minh họa hành động tự hiến của Đức Kitô và mời gọi các tín hữu phải tạo cho mình những tâm tình tự nguyện hiến thân phục vụ như Đức Giêsu đã có : 
“Đức Giêsu–Kitô 
vốn dĩ là Thiên Chúa 
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì 
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, 
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, 
mặc lấy thân nô lệ, 
trở nên giống phàm nhân, 
sống như người trần thế. 
Ngài lại còn hạ mình, 
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, 
chết trên cây thập tự ” (Pl 2,6-8). 
Trong thư gởi giáo đoàn Galát, thánh tông đồ Phaolô trình bày quan niệm Kitô giáo về tự do : người tín hữu được mời gọi để hưởng tự do. Đây là thứ tự do hào hùng của con cái Chúa, nhờ Đấng đã chết và sống lại trao tặng cho chúng ta. Chính Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi ách Lề luật Môse, cứu chuộc chúng ta khỏi tình trạng tội lỗi và cho làm con cái Chúa. Do đó, người tín hữu không thể quay về não trạng cũ, vụ luật, nặng hình thức, lo sợ, khiếp đảm. Trái lại, hãy trân trọng sự tự do của con cái Chúa : “Thưa anh em, chúng ta không phải là con của một người nô lệ, nhưng là con của người tự do. Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta (…). Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl. 4,31 – 5, 1,24). 
Thánh Phaolô coi tự do như một phẩm tính của đời sống Kitô hữu, mặc dù, tự bản chất tự do cũng chẳng hề có giá trị tuyệt đối và vô giới hạn : “Những ai được Thần khí Thiên Chúa hướng dẫn đều là con cái Thiên Chúa. Vì Thần Khí mà anh em đã lãnh nhận, đâu phải là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên : ”Abba ! Cha ơi ! ”. Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa ” (Rm 8,14-16). 
Cái bi thảm của kiếp người là chúng ta có thể nhân danh tự do để hành ác và biến sự tự do hào hùng của con cái Chúa thành thứ “tự do phóng túng” ! Để đề phòng việc lạm dụng tự do này, một số người đã đưa thêm rào cản và chất lên vi con người nhiều luật lệ mới. Điều đáng buồn là một số biện pháp quá tay đã dẫn đến chỗ huỷ diệt hay phủ nhận chính tự do. Làm sao đừng rơi vào hai thái cực nghiệt ngã : nô lệ lề luật hay tự do phóng túng ? 
Theo quan điểm Kitô giáo, tự do luôn bao hàm trách nhiệm và sứ vụ. Thật vậy, đối với người môn đệ của Đức Kitô, tự do vừa là hồng ân vừa là sứvụ : tự do đích thực giải thoát con người khỏi những ràng buộc để thanh thản dấn thân phục vụ. Chính vì vậy, thánh Tông đồ nhấn mạnh : “Thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo xác thịt, nhưng hãy lấy đức ái mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5,13). 
Người Kitô hữu đích thực vẫn giữ vàững niềm hy vọng đạt tới giải thoát toàn diện, ngay cả trong tình trạng bị áp bức, nhưng mặt khác luôn được mời gọi dấn thân phục vụ, và nếu cần can đảm “tự trở thành nô lệ vì lợi ích của tha nhân”. Như vậy, tự do theo quan niệm Kitô giáo không nằm ở chỗ có quyền làm tất cả những gì mình thích hay được phép, mà ở nội lực tự chủ bản thân và khả năng phục vụ Thiên Chúa, cũng như tha nhân. 
Như vậy, tự do đích thực phải được nhìn dưới hai chiều kích bất khả phân ly : ân huệ và trách nhiệm. Do đó cần phân tích, biện biệt và chọn lựa. Thánh Phaolô khuyên nhủ : “Anh em đừng rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận định đâu là ý Thiên Chúa : cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2). 
Trong một mức độ nào đó, chúng ta có thể áp dụng cho tất cả các Kitô hữu châm ngôn của thánh Phaolô : “Tôi được phép làm mọi sự”. Tuy nhiên, “tôi sẽ không để mình bị lệ thuộc bởi bất cứ cái gì” (1Cr 6,12). Niềm tin Kitô giáo không hề chấp nhận chuyện kiêng cữ lẩm cẩm ngày nọ, tháng kia và cũng chẳng có vật tự thân ô uế hay không ô uế. Luật lệ, Hiến Pháp, mệnh lệnh và ngay cả ngày sabát thần thánh cũng được dựng nên vì con người, chứ không phải ngược lại. Tuy nhiên, chúng ta luôn luôn có nguy cơ đánh mất sự tự do hào hùng và trở thành nô lệ của sự đời người thế, khi biến chúng trở nên thần tượng của chúng ta. Thật vậy, có những cái thay vì làm cho chúng ta được triển nở trong tự do, lại cản trở hay nô lệ hoá chúng ta. Do đó, thánh Phaolô đã nói thêm : “Tôi được phép làm mọi sự. Nhưng không phải mọi sự đều có ích cho tôi”. 
Cuối cùng, có những điều tự nó được phép và hơn nữa hữu ích cho chúng ta, nhưng rất có thể gây tổn thương cho tha nhân. Quan niệm đúng đắn về sự tự do kitô giáo không cho phép lãng quên chiều kích trách nhiệm, liên đới và yêu thương. Người trưởng thành tâm linh là người biết dung hoà và giữ được sự quân bình cần thiết giữa tự do, với trách nhiệm, sứ vụ và ơn gọi. 
Chính trong viễn tượng tự do như một ơn gọi và sứ vụ đó, thánh Phaolô giới thiệu với chúng ta một câu châm ngôn trọn vẹn : “Tôi được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi sự đều có ích. Tôi được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi sự đều có tính xây dựng. Đừng ai tìm ích lợi cho riêng mình, nhưng hãy tìm ích lợi cho người khác (…). Vậy, dù ăn, dù uống, hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa (…). Cũng như tôi đây, trong mọi hoàn cảnh, tôi cố gắng làm đẹp lòng mọi người, không tìm ích lợi riêng cho tôi, nhưng cho nhiều người, để họ được cứu độ” (1Cr 10,23-33). 
Lời khấn đã giải thoát người tu sĩ khỏi những ràng buộc, những bận rộn và đam mê thế trần để thanh thản hiến thân phục vụ. Hơn bao giờ hết, giữa thời đại đề cao thực dụng và tiêu thụ này, các tu sĩ cần có những chứng tá hùng hồn hơn về chiều kích tự do tự nguyện xả thân phục vụ này. 
Đây là một tiến trình nhiêu khê và dài thăm thẳm. Chắc chắn không ai có thể đến đích mà không phải trả giá. “Lộ trình từ “con người cũ ” chỉ muốn đóng kín nơi chính mình tới “con người mới ” trao ban chính mình cho người khác, là một lộ trình dài và khó khăn. Các vị sáng lập Dòng đã nhấn mạnh một cách thực tế đến những khó khăn và nguy hiểm của lộ trình, bởi các vị biết rằng cộng đoàn không thể tự nhiên mà thành được (...). Để sống với nhau như anh em và chị em, cần phải có một cuộc hành trình giải phóng nội tâm đích thực ” [189].


[184] Xem Aristote, Ethique Nic., III, 5, 1113b 10 ; Thánh Toma, Tổng Luận thần học, I, q. 83 ; Contra GentiLes, II, 48. 
[185] Vatican II, Gaudium et Spes, 17.
[186] N. Bobbio, “LiberaLismo e democrazia”, trong G.M. Bravo – Rota Ghibaudi, IL pensiero poLitico contemporaneo, MiLno, 1985, tr.47.
[187] Nguyễn Trọng Viễn, “Từ những biểu hiện của tình trạng đạo đức hiện nay, trở lại với vấn đề bản chất con người”, Nguyệt san CGDT, số 126, tháng 6.2005, tr. 44.
[188] Xem M.-P. Aquino (ed.), Apuntes para una teología desde la mujer, Madrid, 1988 ; K.-B. Dougls, The Black Christ, New York, 1994 ; I. Gebara, Teología a ritmo de mujer,Madrid, 1994 ; R.R. Ruether, Sexism and God-Talk. Toward a Feminist Theology, Boston, 1993 ; E. Schussler Fiorenza, Jesus : Miriam’s Child, Sophia’s Prophet. Critical Issues in Feminist Christology, New York,1994 ; A.M. Tepedino, Los discípulos de Jesús, Madrid, 1994. 
[189] Bộ Tu sĩ, Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, số 21.

 

 

§12 - ĐỐI THOẠI HUYNH ĐỆ 

 

Công đồng Vatican II muốn trở thành cánh cửa mở ra thế giới và chủ trương đối thoại với mọi người, không loại trừ bất cứ ai : Từ những người đang tôn thờ những giá trị nhân bản cao quý mà chưa nhận biết Đấng Tạo hóa cho đến những người chống đối và bách hại Giáo hội dưới nhiều hình thức. Đặc biệt, Công đồng thiết tha cổ võ đối thoại giữa cộng đòan Dân Chúa, bởi vì những gì nối kết các tín hữu thì lớn lao hơn những gì gây chia rẽ. 

Lấy lại một nguyên tắc thâm thúy của thánh Augustinô, Công đồng đề nghị một chỉ nam của đối thoại : hợp nhất trong những gì chính yếu, tự do trong những gì nghi ngờ và bác ái trong mọi sự [190]. Và đức Phaolô VI cho rằng “Giáo hội phải đối thoại với tất cả mọi người thành tâm thiện chí, không phân biệt họ là người ở trong hay ở ngoài Giáo hội. Không ai là người xa lạ đối với con tim của Giáo hội”.
Đối với đời sống tu trì thì chia sẻ, thỏa luận và đối thoại giữ một vai trò rất quan trọng, nhất là khi các tu sĩ trong cộng đoàn khác biệt nhau về tuổi tác, chủng tộc, văn hóa, giáo dục, nghề nghiệp và quan điểm. “Nếu thiếu vàng đối thoại và lắng nghe thì các phần tử trong cộng đoàn có nguy cơ sống một cuộc đời kề cận hoặc song hành với nhau, nhưng rất xa lý tưởng huynh đệ” [191]
1- Đừng või phê phán
Theo nhiều tâm lý gia, sự phân biệt giữa quan sát / nhận định một cách khách quan với phê bình/ đánh giá mang tính chủ quan là một bước cần thiết không những trong tiến trình nghiên cứu, mà ngay cả tương giao thường nhật. Nghệ thuật quan sát là cố gắng nhìn vấn đề từ nhiều góc cạnh, tìm hiểu và thu thập dữ kiện bao nhiêu có thể…. mà chưa või phê bình, chỉ trích hay kết án. Sau đó, chân thành lắng nghe những giải thích mà đương sự trình bày cho chúng ta. Cuối cùng mới nhận định và phê phán, nếu cần.
Nếp sống của người Việt chúng ta thường tình nặng hơn lý, dĩ hòa vi quí, đại khái, du di linh động, chín bỏ làm mười. Khuynh hướng hài hòa này biểu lộ lối sống tình cảm, mềm dẻo, tế nhị, du di, tương đối... Nhưng cái mặt trái của nó là tùy tiện, đại khái và thiếu khách quan, mập mờ, thiếu minh bạch. Thành ra, “khi yêu thì trái ấu cũng tròn”, mà đã ghét thì “trái bồ hòn cũng méo”. Có lẽ do cái tính du di, mập mờ, ít tôn trọng sự thật khách quan này đã nẩy sinh những tin đồn thất thiệt, chỉ trích, nói hành, chụp mũ, vụ khống, đặt điều… giữa người Việt với nhau. 
Người ta đã nói nhiều về thói đố kỵ và việc thiếu hợp tác giữa người Việt với nhau. Có người diễn tả tật xấu này bằng lối so sánh ví Von : nếu một người Việt Nam rớt xuống hố thì thế nào cũng tự leo lên được, nhưng nếu ba người cùng rớt xuống hố thì không ai leo lên nổi, vì người nọ sẽ kéo người kia xuống... Kiểu nói có về phóng đại đó cố ý diễn tả thói đố kỵ, lối làm ăn manh mún, khôn vàt, tiểu kỷ, khó cộng tác của người mình trong doanh nghiệp cũng như trong cuộc sống. 
Nhiều người quả quyết rằng những phê phán của họ chính xác vì đã dựa trên sự kiện mắt thấy tai nghe. Nhưng thực sự có chính xác là mắt thấy tai nghe hay chăng ? Hơn nữa, cho dù đích thực là chuyện “mắt thấy tai nghe” đi chăng nữa có dám chắc là đúng 100% hay không ? Câu chuyện “đâu là sự thật” của đức Khổng Tử sau đây giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn.
“Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Ngày đầu tiên, đến đất Tề trong hoàn cảnh chung lúc đó : lầm than, đói khổ, chiến tranh. Và thầy trò vui mừng khi có một người đem biếu ít gạo.
Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các bạn vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi thì đảm nhận việc nấu cơm.
Sau khi Tử Lộ vào rừng, thì Nhan Hồi nấu cơm dưới bếp, còn Khổng Tử đọc sách ở nhà trên đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ.
Đang nằm đọc sách, bỗng Khổng Tử nghe tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên. Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống thì thấy Nhan Hồi từ từ mở vung lấy đũa xới cơm cho vào tay nắm lại từng nắm nhỏ, rồi đậy vung lại và từ từ đưa cơm lên miệng.
Tất cả hành động của Nhan Hồi không lọt qua mắt của Khổng Tử. Thở dài, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than : “Chao ôi ! học trò đệ nhất của Khổng Tử mà lại ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư ? Chao ôi ! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói cả !”
Sau đó, Tử Lộ và các bạn mang rau về. Nhan Hồi lại luộc rau. Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ. Một lát sau, rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên, tất cả các môn sinh đều chắp tay mời Khổng Tử dậy dùng cơm.
Khổng Tử dậy và nói : “Các con ơi ! chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề, đường xa vàn dặm. Thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dầm sương dãi nắng, đói khổ như thế mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy trải qua bao nhiêu chặng đường, đói cơm khát nước. Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, thầy trò ta may mắn có được bữa cơm. Bữa cơm đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ, thầy nhớ đến cha mẹ thầy, cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy. Các con tưởng có nên chăng ?”
Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa : “Thưa thầy nên ạ !”
Khổng Tử nói lại : “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch không ?”
Tất cả học trò đều không hiểu ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Bấy giờ, Nhan Hồi liền chắp tay thưa : “Thưa Thầy nồi cơm này không được sạch”.
Khổng Tử hỏi : Tại sao ?
Nhan Hồi đáp : “Thưa thầy, khi cơm chín con đã mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa. Chẳng may một côn gió tràn vào, bồ hóng và bụi bay vào làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại, nhưng không kịp. Sau đó, con xới cơm bẩn ra định vứt đi. Nhưng con lại nghĩ : cơm thì ít mà anh em thì đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô tình bỏ mất một phần ăn, anh em phải ăn rút lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, con ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em. Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi, bây giờ con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ !”
Nghe Nhan Hồi nói thế, Khổng Tử lại ngửa mặt lên trời mà than : “Chao ôi ! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu đúng sự thật ! Chao ôi ! Suýt tí nữa Khổng Tử này đã trở thành kẻ hồ đồ !”
Câu chuyện trên khiến tôi băn khoăn và suy nghĩ rất nhiều. Đã bao nhiêu lần chúng ta đã ngộ nhận một cách rất ngay tình, thật chân thành và đầy xác tín nữa ! Người xưa vẫn viện dẫn chuyện “mắt thấy tai nghe” như một lý chứng hùng hồn và chính xác nhất. Tuy nhiên, như Khổng Tử cho thấy, có những trường hợp chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn hiểu không đúng sự thật ! Phải chăng đây là giới hạn nghiệt ngã của thân phận làm người và chính giới hạn hiện sinh này khiến chúng ta phải thận trọng hơn trong nhận định và phán đoán. 
Mỗi con người là một huyền nhiệm và trong mỗi người luôn hiện diện một cái gì linh thiêng, bất khả xâm phạm, nhân danh Đấng Tuyệt Đối đã tạo dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài. Chẳng ai có thể hiểu được thế giới bí ẩn này nếu chỉ dừng lại nơi những quan sát, phân tích bên ngoài. Huyền nhiệm chỉ vén mở cho ta khi tha nhân tự nguyện mở cánh cửa và cho phép bắc nhịp cầu tương giao. Đối thoại là một trong những chìa khóa thích hợp để mở cánh cửa huyền nhiệm đó, để đi vào thế giới xa lạ này, để hiểu và cảm thông với nhau hơn.
2- Ý nghĩa của đối thoại
Trong thế giới hôm nay, đối thoại đã trở thành một danh từ thời thượng, một nếp nghĩ, một cách thế sống và một lối giải quyết vấn đề. Đây là một đường lối ứng xử và cách thức giải quyết các xung đột bằng sức mạnh của trí tuệ, kiến thức, khả năng thuyết phục của lẽ phải, chứ không dựa trên sức mạnh của võ lực hay thể lực. Chính vì vậy, hiện nay đối thoại xuất hiện trong mọi lãnh vực của cuộc sống : đối thoại trong đời thường, đối thoại giữa các thế hệ, các nền văn hóa, các cộng đồng tôn giáo, các thành phần xã hội, các nhà khoa học, các thể chế chính trị, các khu vực kinh tế, các đại học, các xí nghiệp và ngay cả đối thoại giữa người với máy vi tính. Sâu xa hơn, ở thời đại dân chủ và đa nguyên văn hóa này, tất cả là đối thoại, bởi vì tất cả trở thành đề tài để thảo luận, suy tư và kiếm tìm. Nhiều quan niệm và qui tắc ngày xưa tưởng chừng như chân lý Vĩnh cửu, bất di bất dịch và bất khả xâm phạm... cũng đang bị mổ xẻ và giải thích lại. Tất cả là đối thoại và đối thoại nghiễm nhiên trở thành một biểu hiện tích cực của thời đại [192]
Hạn từ đối thoại rất phong phú và được hiểu nhiều cách khác nhau. Trước hết, ở bình diện thuần túy nhân bản, đối thoại có nghĩa là chia sẻ, trao đổi, truyền thông cho nhau các thông tin, quan điểm, kinh nghiệm, cảm nghiệm và chọn lựa nhằm đạt tới một mục đích nào đó. Trên một bình diện cao hơn, đối thoại dẫn đến sự hiệp thông liên nhân vị, với tất cả sự cởi mở, trân trọng và phong phú hóa cho nhau. Hình thức đối thoại này có thể dẫn đến sự gặp gỡ trong tình bạn. 
Đây không phải chỉ là lời nói suông, nhất là thứ độc thoại khô cằn hay những kiểu nói để thóa mạ, vụ khống, lấn át người khác. Lời nói ở đây chính là nhịp cầu –bằng biểu tượng, tâm linh hay hành động– để đi tới tha nhân, để lấp đầy khoảng trống và hố cách biệt sâu thẳm giữa ta với người. Đối thoại đích thực luôn giả thiết thái độ cởi mở, can đảm vượt thắng cảm xúc, thiên kiến, tập quán để kiên nhẫn lắng nghe, sáng suốt lãnh hội quan điểm của người và bình thản đón nhận hay nêu thắc mắc, đặt vấn đề.
Với hiền triết Socrate, đối thoại là một phương thế truy tầm chân lý, ngang qua hình thức trao đổi và đối chất về tư tưởng. Ông sử dụng đối thoại như một đường hướng triết lý giáo dục. Dưới cái nhìn của ông tổ triết học Tây phương, đối thoại là thái độ dấn thân kiếm tìm chân lý, xây dựng niềm cảm thông giữa người với người. Theo Socrate, sứ mệnh của giáo dục là soi sáng và hướng dẫn, chứ không phải truyền đạt kiến thức một cách máy móc cho người khác. Đây là một hành trình chung giữa thầy và trò. Ông thường mệnh danh phương pháp giáo dục này là “khích biện pháp” (maieutique) và ông thú nhận đã học được nó nơi nghề hộ sinh của mẹ ông. Cũng như hộ sinh không bao giờ có nghĩa là sinh thay cho người khác, mà chỉ giúp đỡ để sản phụ sinh dễ dàng và đảm bảo hơn. Nhiệm vụ của giáo dục cũng không phải là chụp lên đầu môn sinh những quan niệm tiền chế, nhét vào óc họ những tri thức khách quan, mà là khai mở, soi sáng, hướng dẫn, giúp đỡ... hầu làm triển nở chân lý tiềm ẩn nơi mỗi người.
Trong thế giới hiện đại, điều kiện tiên quyết của một cuộc đối thoại đích thực là phải chấp nhận đa nguyên, đa diện, đa văn hóa và trân trọng những khác biệt căn bản giữa người với ta. Đối thoại vì vậy là cuộc gặp gỡ giữa các nhân vị, chứ không chỉ là sự so sánh về ý tưởng hay một cuộc đọ sức giữa các hệ thống. Do đó cần phải quan tâm đến mỗi con người cụ thể, với tính tình, kinh nghiệm sống, trình độ học vấn, điều kiện xã hội riêng biệt. Nói cách khác, qua đối thoại mỗi cá nhân được nhìn nhận như những nhân vị có quyền lợi, tự do, cá tính và sắc thái riêng. 
Tự bản chất, đối thoại đòi hỏi phải tôn trọng sự khác biệt và chối từ tham vọng chinh phục người khác. Người khác tự bản chất không những không thể đồng hóa với ta, mà còn thực sự khác ta rõ rệt. Nhưng chính nơi sự khác biệt này ta tìm thấy căn tính và đặc thù của họ, làm cho họ là họ, chứ không phải là ta hay một ai khác. Sau một quá trình đối thoại chân thành, rất có thể chúng ta sẽ vượt qua một số bất đồng ban đầu để đi đến một đồng thuận nào đó. Nhưng chúng ta không thể dễ dàng đốt giai đoạn hay nuôi ý đồ “xâm lược” ngay từ ban đầu.
Cám dỗ thường xuyên của chúng ta là muốn nhanh chóng loại trừ mọi khác biệt, muốn đúc nặn môn sinh theo quan niệm và hình ảnh của riêng mình. Ra như cứ canh cánh sợ rằng người khác, đặc biệt những “đứa con tinh thần” của ta, không giống ta. Thế nên ta cố sức nhào nặn, bắt chúng phải vào một khuôn nhất định, phải cảm nghĩ, tư tưởng, hành động y hệt như ta. Tệ hơn nữa nhiều khi còn lấy tiêu chuẩn chủ quan của ta để đánh giá, phê phán và xếp loại tha nhân : ai phù hợp với tiêu chuẩn của ta sẽ được liệt vào hạng gương mẫu, còn ai có lối sống, nếp nghĩ, tâm thức khác ta... sẽ bị nghi ngờ hay đánh gía thấp.
Nếu bình tâm suy nghĩ chúng ta sẽ nhận ra tính phi lý của thái độ nói trên. Phần nào nó tương tự như tâm trạng của anh chàng hủi trong sách cổ ngày xưa. Trang Tử kể : Lần kia, vàợ anh sinh đứa con đầu lòng. Anh chàng hết sức nôn nóng, vừa mừng vừa lo. Nửa đêm või và thắp đèn đi xem mặt con. Chỉ canh cánh lo sợ đứa con sẽ khác mình, nghĩa là không hủi như anh ! 
Ở đây chắc chắn không thiếu tình yêu và thiện chí. Có điều nó bị hiểu sai và đặt không đúng chỗ, nên có nguy cơ biến thành chiếc giường Procuste. Theo thần thoại Hy Lạp, Procuste là một tên tướng cướp kỳ khôi. Y có một chiếc “giường kiểu mẫu”. Mỗi lần bắt được ai, y đặt lên chiếc gường đó để đo. Nếu vừa vàn, y sẽ thả cho đi bằng an ; nếu thừa, y sẽ dùng gươm xén bớt ; còn nếu ngắn quá, y sẽ kéo cho tới khi bằng chiếc gường mới thôi. Suốt dọc lịch sử nhân loại, biết bao nhiêu lần người ta đã áp dụng chiếc giường Procuste này vào lãnh vực giáo dục, xã hội, chính trị, tư tưởng, tôn giáo ? 
Vì không chấp nhận tính đa nguyên và đa diện của cuộc sống, rất nhiều lần sự khác biệt của tha nhân đã gây nên nỗi bất an, lo sợ, phiền muộn. Nhiều khi ta đau khổ vì không chịu nổi sự khác biệt của tha nhân hay vì thấy tha nhân có lối sống, quan điểm chính trị, niềm tin tôn giáo... không giống ta. Ta quên rằng chính vì tha nhân là tha nhân nên khác ta, và, nhìn từ một góc độ khác, những khác biệt đó không những có thể làm giàu cho xã hội, mà còn bổ túc và làm triển nở bản sắc của riêng ta. Khai trừ những khác biệt giữa người với ta có thể dẫn đến thái độ áp đặt, độc quyền và độc tôn, mà hậu quả tai hại của nó là có thể khai trừ chính tha nhân. Thái độ đối thoại, trái lại, đòi hỏi phải chấp nhận và trân trọng tính đa diện, cũng như sự khác biệt căn bản giữa người với ta để cố gắng bắc nhịp cầu thông cảm và tiến tới một giải pháp thỏa đáng cho cả đôi bên.
Một cuộc đối thoại đích thực đòi hỏi phải đảm nhận đồng thời hai yếu tố có về trái ngược, nhưng bổ túc nhau : giữ căn tính của mình và tôn trọng quan điểm của người ; trân trọng những nét riêng biệt của họ, mà vẫn không đánh mất căn tính của mình. Nó đòi hỏi cả hai bên phải ý thức rõ rệt căn tính và bản sắc của mình cũng như của người. Albert Camus đã nhận định sâu sắc : “Điều tôi mong muốn nói với quí bạn hôm nay chính là thế giới đang cần cuộc đối thoại chân chính. Thái độ giả dối cũng như im lặng đều tương phản với đối thoại. Chỉ có đối thoại thực sự giữa những người chân thành với chính mình và nói sự thật” [193]. Nói cách khác, không thể có đối thoại đích thực với người, mà đồng thời lại “đánh lận con đen”, tự lừa dối chính mình. 
Hiểu như vậy, có xác tín, có lập trường và trân trọng giữ vàững bản sắc của mình không những không phải là chướng ngại, mà còn là điều kiện cần thiết để có thể đối thoại thực sự. Rất nhiều lần, chính những khác biệt giữa ta và người có thể giúp cả hai mở rộng tầm nhìn và phát triển căn tính. Paul Ricoeur dám nói : “Để có thể là mình, hãy đối thoại với người ; nhưng để đối thoại với người, mình phải là mình”. Mấy chục năm về trước, Martin Buber đã quả quyết : “Tôi trở nên người thành toàn qua tương giao với Anh ; khi trở thành Tôi, tôi gọi Anh. Tất cả cuộc sống đích thực bao hàm việc gặp gỡ” [194].
Cuối cùng, đối thoại luôn bao hàm thái độ dấn thân và chấp nhận thách đố. Nó đòi hỏi người đối thoại phải ra khỏi tháp ngà định kiến và can đảm sửa đổi chính quan điểm và cuộc sống của mình. Người đối thoại chân thành là người dám chấp nhận đặt lại ngay cả những xác tín của riêng mình, dám biến đổi chính cuộc sống hay cách thế sống. Như vậy một cuộc đối thoại đúng nghĩa không loại trừ khả năng thay đổi cuộc đời hay ăn năn hoán cải. 
3. Thái độ bao dung
Cổ nhân ta thường lấy “khoan dũ ôn nhu” làm như một đường lối xử thế hợp tình hợp lý. Theo danh từ Hán Việt, khoan là rộng rãi, độ lượng, còn dung là tiếp nhận, tha thứ. Như vậy, bao dung là rộng lòng chấp nhận, tha thứ, bao bọc và độ lượng với người khác. 
Từ “bao dung” này cũng thường được dùng để dịch chữ “tolerantia” của tiếng La-tinh và những danh từ tương đương trong ngôn ngữ Âu Mỹ. Theo nguyên ngữ, “tolerantia” mang một ý nghĩa khá tiêu cực, ám chỉ thái độ bó buộc phải chấp nhận những điều khó chịu và bực bội về thể lý. Thiết tưởng cũng không nên quên rằng quan niệm “tolerantia” này xuất hiện vào thế kỷ XVI, trong bối cảnh của cuộc chiến tranh giữa Công giáo và Tin lành. Sau nhiều cuộc đọ sức tàn khốc, nhưng bất phân thắng bại, hai phe đành chấp nhận giải pháp bao dung tôn giáo : vùng nào đạo nấy và đạo ai người ấy giữ. Dần dần thái độ bao dung được áp dụng cho tất cả các tôn giáo và niềm tin khác. Từ thế kỷ XIX, quan niệm bao dung được áp dụng rộng rãi trong các lãnh vực tôn giáo, tư tưởng, xã hội, chính trị. 
Do tính phức tạp, hàm hồ và lấp lửng của hạn từ này, người ta không khỏi cảm thấy ngập ngừng và do dự khi phải xác định bao dung là gì. Thường thường người ta vẫn hiểu bao dung dưới góc độ tiêu cực, bao hàm một thái độ sống lấp lửng và mâu thuẫn : nghĩ một đàng, làm một nẻo ; không tán thành điều mình cho là xấu, nhưng cuối cùng ra như lại cho phép nó xảy ra ( ?). Phải chăng đó là thái độ tri hành bất nhất, nếu không muốn nói là lập lờ và giả dối ? Hình nhưtrong thực tại cuộc sống, có những trường hợp vì không thể làm cách khác, đành phải chấp nhận bao dung ! Chẳng hạn khi không đủ khả năng để chống lại sự dữ mà mình lên án, hoặc khi thấy việc loại trừ sự dữ nói trên có thể gây nên những đổ vàỡ lớn hơn, nên cực chẳng đã đành chấp nhận “bao dung”.
Ngay từ thế kỷ XIII, thánh Tôma nghĩ rằng chính Thiên Chúa cũng không muốn cưỡng chế con người trong việc hành thiện. Có một số trường hợp, xem ra Ngài còn cho phép xảy ra sự dữ “bởi vì việc triệt tiêu những sự dữ này có thể đi đến chỗ phá huỷ những điều thiện lớn hơn và gây nên những sự dữ trầm trọng hơn”. Từ cái nhìn hiện thực đó thánh tiến sỹ kết luận : “Bởi vậy, trong việc trị nước, nhà cầm quyền có thể bao dung đối với một vài hành động xấu, vì sợ rằng nếu làm ngược lại, một số điều thiện sẽ không được thực hiện hay e rằng sẽ xẩy ra những điều xấu lớn hơn” [195].
Tuy nhiên nếu nhìn từ phía phủ định, nghĩa là từ những gì không phải là bao dung, có lẽ vấn đề sẽ bớt tiêu cực hay ít phức tạp hơn. Bao dung đích thực không đồng nghĩa với thái độ thụ động, xuề xoà dễ dãi, bất cần, phó mặc. Cũng chẳng phải là thứ “mũ ni che tai”, để cho “thiên hạ sống chết mặc bay”. Càng không phải là thái độ nhắm mắt làm ngơ trước sự dữ, vì sợ phải biểu lộ lập trường, lấy quyết định hầu đối phó với những hiện tượng tiêu cực. Bao dung luôn đòi hỏi phải có thái độ và biết đánh gía sự đời người thế, mặc dù có những lúc sự đánh giá này chỉ nằm trong tâm thức, chứ chưa biểu lộ ra bên ngoài. 
Trong mấy thập niên gần đây, nhiều người vẫn cho rằng ý niệm bao dung theo quan niệm nói trên hơi tiêu cực, nên đã đưa ra quan niệm khác tích cực hơn. Theo họ, bao dung là “đường lối xử thế chủ yếu làm sao để người khác được tự do trình bày những quan điểm mà chúng ta không đồng ý và nhất là cho phép mỗi người sống theo những nguyên tắc và xác tín riêng”. Bao dung, vì vậy, không có nghĩa từ bỏ các xác tín cá nhân, để trở thành thứ người ba phải. Người bao dung là người luôn có lập trường và xác tín riêng, nhưng không áp đặt nó trên người khác, trái lại chấp nhận để người khác cũng có những xác tín riêng của họ.
Cơ quan văn hóa của Liên Hiệp quốc (UNESCO) đã nhìn bao dung dưới góc độ tích cực này. Mục đích và ý nghĩa của thái độ bao dung là tôn trọng quyền lợi và tự do của người khác. Bao dung là nhìn nhận và chấp nhận những khác biệt giữa các cá nhân, là biết lắng nghe người khác, trao đổi với họ và hiểu họ. Bao dung là nhìn nhận sự khác biệt về văn hóa, cởi mở trước những quan niệm và hình thức suy tư khác biệt (…...). Bao dung là nhìn nhận rằng không có văn hóa, quốc gia và tôn giáo nào độc quyền về kiến thức hay chân lý. Bao dung là một cách thế của tự do : giải thoát ta khỏi những định kiến và thái độ giáo điều. Người bao dung là người biết làm chủ quan điểm và hạnh kiểm của mình. Như vậy, bao dung là một thái độ tích cực đối với tha nhân, tuyệt đối loại trừ cái cao ngạo, tự đắc tự phụ.
Trong viễn tượng đó, chúng ta có thể quan niệm bao dung như một cách thế đối sử nhân ái, cởi mở và tôn trọng. Người bao dung không hề dửng dưng đối với những gía trị tôn giáo, luân lý, chính trị hay ý thức hệ, trái lại họ là người có xác tín sâu xa, nhưng đồng thời cũng biết tôn trọng xác tín của người khác. Nói rõ hơn, chỉ thực sự có thái độ bao dung, khi chúng ta có xác tín và dám sống – chết với xác tín của mình, nhưng đồng thời cũng cố gắng làm tất cả những gì có thể để người khác có thể sống chết với xác tín của riêng họ. Có thể coi đây như một hình thức trần tục hóa và hiện đại hóa lòng yêu thương tha nhân : biểu lộ sự trân trọng, niềm cảm thông và mối quan tâm thực sự đối với cuộc sống, nếp nghĩ, quan điểm, chọn lựa... của người khác [196]
4- Một vài cách thế
Trong lãnh vực đào tạo, đối thoại vừa là phương pháp, vừa là điều kiện cần thiết và là cách thế giáo dục phù hợp với thời đại hôm nay. Như chúng ta đã thấy, đối thoại là một nghệ thuật, chính vì vậy cũng đòi hỏi một số điều kiện và kỹ năng tương xứng của người xử dụng. Xin ghi lại nơi đây một vài yếu tố thông thường nhất của tiến trình đối thoại nhiêu khê này. 
a)- Thái độ lắng nghe
Đối thoại là chia sẻ, trao đổi thông tin, quan điểm, kinh nghiệm giữa ta với người. Một cuộc đối thoại đích thực bao hàm hai chiều hỗ tương giữa nói và nghe, cũng như vừa cho vừa nhận. Thiếu vàng thái độ lắng nghe sẽ không còn là đối thoại, mà là độc thoại. Vì vậy, biết nói và biết nghe đều cần thiết như nhau. Khi thực sự biết lắng nghe, chúng ta biểu lộ thái độ trân trọng những gì người nói muốn thổ lộ và cảm thông với những âu lo, căng thẳng, thất vọng hay hy vọng của họ. 
Theo tư tưởng gia Paul Tillich, “bổn phận trước tiên của tình yêu là lắng nghe”. Thái độ chân thành lắng nghe sẽ tạo nên sự tin tưởng và cởi mở nơi người nói, đồng thời giúp chúng ta có những khám phá mới. Nhưng “lắng nghe” cũng là một phương pháp và đòi hỏi những điều kiện riêng biệt :
Khi chân thành lắng nghe, chúng ta đem đến cho người nói lòng tự tin và mối thiện cảm. 
Chăm chú nghe quan điểm của người đối thoại và cần nhạy bén và tỉnh thức trước những điểm gọi là “cảm xúc điếc”. 
Nếu lái xe chúng ta phải cẩn trọng trước “những điểm mù” thì khi nói chuyện chúng ta phải tập trung tinh thần nhiều hơn trước những lời nói dễ làm ta phân tâm hay những khi thay đổi đề tài quá đột ngột.
Phấn đấu để không mất bình tĩnh hay tỏ thái độ trước những gì mình không đồng ý.
Nên tạo cơ hội và khuyến khích người nói an tâm nói hết những âu lo, căng thẳng hay kể hết câu chuyện về cuộc đời của họ, với những thành công, thất bại, ước mơ…
Không nên või vàng phán đoán hay phê bình. Nếu cần, nên góp ý để sửa sai một quan điểm hay nhận định, và đừng làm cho người nói có cảm tưởng là mình chống lại chính cá nhân họ.
Xử dụng các thông tin phản hồi để hiểu và nắm bắt chính xác hơn những điều được trình bày.
Cố gắng thư giãn và lắng nghe một cách thích thú. Đừng bao giờ làm cho người nói có cảm tưởng là mình khinh thường họ hay chẳng thèm quan tâm đến những gì họ đang trình bày, vì đã biết hết. 
Không nên chốc chốc lại nhìn đồng hồ hay tỏ về không có giờ để nghe người thụ huấn trình bày.
Trong khả năng và điều kiện cho phép, cố gắng chọn một thời khắc thuận tiện nhất và tạo ngoại cảnh thích hợp cho việc đối thoại.
b)- Cách đặt câu hỏi
Một cuộc đối thoại ý nghĩa và thú vị đòi hỏi sự cộng tác của hai phía : người nói và người nghe, nhất là khi người nghe lại là người ở trên và có quyền. Ngoài điều kiện biết lắng nghe nói trên, người nghe nên gợi mở, khích lệ người đối thoại tiếp tục câu chuyện bằng những câu hỏi thích hợp.
Để vào đề rất cần những câu hỏi thuộc loại “vô thưởng vô phạt” về sức khỏe, việc học tập, tin tức gia đình… Đây là loại câu hỏi khai mở, tạo bầu khí thiện cảm, tin tưởng rất cần thiết cho những cuộc đối thoại, đặc biệt nhất đối với các thụ huấn sinh khép kín, rụt rè…. 
Đặt câu hỏi khéo để tạo sự đồng thuận và để khích lệ người thụ huấn trình bày tất cả những gì mình muốn biết.
Đặt những câu hỏi cần thiết để khám phá những động lực lựa chọn đời sống tu trì, cũng như nguyện vọng và ước muốn của người thụ huấn.
Đặt câu hỏi để lấy thêm thông tin và biết rõ hơn một số “điểm điếc”.
Đặt câu hỏi để yêu cầu người thụ huấn suy nghĩ thêm hay đặt lại vấn đề về những xác tín hoặc nghi ngờ của họ.
Đặt câu hỏi để nói lên sự hưởng ứng và hỗ trợ tâm lý cần thiết.
Đặt câu hỏi để xây dựng lòng tin và thái độ cởi mở.
Đặt câu hỏi để khám phá những căng thẳng, nghi ngờ và âu lo đang chất chứa trong lòng người nói, ngõ hầu giúp họ giải thoát gánh nặng vô ích đó.
c)- Cảm thông
Người cảm thông là người "nhạy cảm" trước vấn đề của người khác và có khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của họ, biết “ở trong tha nhân”. Chính vì thế cảm nhận toàn diện vấn đề trong bối cảnh của cuộc sống, trong lịch sử của một con người, trong niềm liên đới và cảm thương giữa người với nhau. 
Với cặp mắt tinh tế và tấm lòng yêu thương, người ta sẽ nắm bắt không phải những lời đã được nói ra, mà ngay cả những gì chưa được phát ra thành lời. Đọc ra cái “ngôn tại ý ngoại”, như cổ nhân từng nói. Ngay cả âm điệu, cử chỉ, gương mặt, ánh mắt và toàn thể dáng về của người nói cũng mang một ý nghĩa độc đáo. Vì vậy, người nghe có kinh nghiệm luôn biết quan sát toàn diện người đối diện đồng thời với lắng nghe.




[190] Xc. Gaudium et Spes, số 92.
[191]Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, số 32.
[192] Xem J. Lacroix, Le Sens du dialogue, Neuchâtel, 1944 ; R.L.Howe, The Miracle of Dialogue, New York, 1963 ; Ch. Baudoin (éd.), Dialogue ou violence ? Dix-huitièmes Rencontres internationales de Genève 1963, Neuchâtel, 1963 ; M. Bon (éd.), Le Dialogue et les Dialogues, Paris, 1967 ; R. Garaudy, Pour un dialogue des civilisations, Paris, 1977.
[193] A. Camus, Actuelles I, Chroniques 1944-1948, trong Essais, Paris, 1965, tr. 372. Câu văn trích dẫn ở trên là thành phần của một bài nói chuyện tại tu vien Đaminh ở Boulevard Latour-Maubourg vào năm 1948. 
[194] M. Buber, Je et tu, Paris, 1969, tr. 30. 
[195] Thánh Tôma, Tổng luận thần học, II-II, q.10, a.11. 
[196] Nguyễn Thái Hợp, Đường vào thần học về tôn giáo, tái bản, Houston, 2004, tr. 23-33.