Lời Chúa Hằng Tuần

Chúa nhật XXXIII thường niên, năm C: Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa

 


CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN, NĂM C
Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa
Lời Chúa: Ml 3,19-20a; 2Tx 3,7-12; Lc 21,5-19

 

1. Kiên trì trước sức tàn phá – ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

Trong tác phẩm ngư ông và biển cả, văn hào Hemingway mô tả một ông lão nghèo khổ, khô gầy, chân tay nứt nẻ vì cọ sát dây câu… Hàng chục ngày câu cá, không được con nào. Lão còn bị bọn dân chài chế nhạo. Lão không nản chí, quyết câu được cá to. Lão ra tít mù khơi, thả câu, chờ tới chiều, bỗng dây câu giựt mạnh. Lão xuýt té, bám lấy mạn thuyền, thuyền bị kéo chạy phăng phăng. Lưng, vai, tay lão bị dây xiết chặt, lão vừa đói khát, vừa mệt lử. Có lúc lão thiếp đi. Ba ngày sau, cá đuối sức, lão đâm, chém, đập xiên xọc cho cá chết, rồi buộc vào mạn thuyền, lôi về. Con cá kiếm dài hơn thuyền, nặng tới sáu bảy tấn. Lão vui mừng, khỏe hẳn lại. Ngờ đâu bọn cá mập đánh hơi thấy mùi máu tanh nhào lại rúc rỉa. Lão chống trả quyết liệt với bọn sư tử biển này. Bọn cá mập bỏ chạy. Nhưng cá kiếm của lão chỉ còn lại bộ xương. Lão kéo lên bờ. Người ta trầm trồ trước bộ xương vĩ đại với đuôi cá khổng lồ. Còn lão, lão ngủ thiếp đi trong giấc mộng lởn vởn lũ sư tử biển.

Mỗi người chúng ta là một lão ngư ông trên biển đời mà Đức Giêsu đãdiễn tả trong bài Tin Mừng cho chúng ta thấy những sức mạnh tàn phá kinh khủng của nó.

1- Trước hết là sức mạnh tàn phá của thời gian: thời gian sẽ tàn phá hết mọi sự trên đời, mà đền thờ Giêrusalem là một điển hình. Người ta trầm trồ khen ngợi đền thờ Giêrusalem kiên cố, đồ sộ, còn mới nguyên, được trang hoàng bằng cẩm thạch bóng loáng, chạm vàng óng ánh và trầm hương thơm ngát. Nhưng Đức Giêsu bảo: “Những gì anh em chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết. Không còn tảng đá nào trên tản đá nào”.

Lịch sử đền thờ Giêrusalem đã trải qua những bước thăng trầm để rồi bị tàn phá hết. Đền thờ thứ nhất được Vua Salômôn xây cất kỳ công kiệt tác để rồi Vua Nabucôđônôsô kéo quân đến tàn phá và bắt dân Do Thái đi đầy ở Babilon. Đến thời Vua Kyrô và Darius nước Ba tư cho dân về xây cất lại đền thờ dưới quyền chỉ huy của Zorababen (năm 520-515), đây là đền thờ thứ hai rất sơ sài, sau lại bị quân Anticô IV chiếm cứ tế thần Zeus Olympic, năm 169 anh em Juda Macabê nổi lên đánh đuổi bọn xâm lăng tà thần và tẩy uế đền thờ năm 164.

Đến thời Hêrôđê đại đế xây lại nguy nga lớn hơn đẹp hơn, để rồi quân Rôma do tướng Titus đến đốt sạch, phá hết vào năm 70 sau Đức Giêsu.

Cuộc đời con người còn mong manh, mỏng dòn, dễ bị tàn phá hơn đền thờ rất nhiều.

2- Thứ đến là sức tàn phá của lừa gạt, giả dối, giả mạo. Mấy anh Việt kiều kể: Có giáo phái giúp đỡ những Việt kiều rất tử tế để theo họ, khi theo rồi phải đóng thuế nặng như đóng thuế cho nhà nước. Nhiều người đã mắc bẫy lừa gạt như vậy.

Lịch sử còn cho biết: Bao nhiêu dân lành đã thiêu thân trong những cuộc chiến đẫm máu vì những lời lừa gạt; chiến đấu vì bảo vệ tôn giáo, chiến đấu để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ dân tộc, chiến đấu cho tự do, dân chủ … Những khẩu hiệu đẹp đẽ lừa gạt đó ngầm chứa những tham vọng cá nhân làm bá chủ, độc tài, gia đình trị như Napolêon, Hitler, Polpôt…

Thời xưa, tiên tri Mikayahu cảnh báo Vua Akhab chớ xâm chiếm thành Ramat Galaat. Akhab không nghe, ông triệu tập được bốn trăm tiên tri giả đã nịnh bợ bảo vua: “Tiến lên, Đức Chúa sẽ nộp thành trong tay đức vua”. Akhab đi đánh bị quân Ramat bắn chết (1V. 22, 5-37)

Tiên tri Gêrêmia cũng nói thật với vua Sêđêquia chớ liên minh với Ai Cập. “Nhưng các tiên tri giả vô đạo, ngoại tình, dối trá, chúng củng cố lũ ác ôn của nhà vua bằng những lời lừa gạt rằng: “Thành Giêrusalem sẽ được bình an vô sự, không có tai họa nào cả”. Chẳng bao lâu quân của vua Nabucôđônôsô kéo đến phá tan thành vì đã liên minh với Ai Cập chống lại Babilon. Và tất cả dân chúng bị bắt đi đầy sang Babilon.

Người ta vẫn nói: “Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn tán bang” – Một lời nói làm cho đất nước hưng thịnh, một lời nói có sức phá tan nát đất nước. Trước sức mạnh tàn phá của lời nói lừa gạt, Đức Giêsu dậy các môn đệ và chúng ta phải hết sức đề phòng những tiên tri giả, những lời dụ dỗ đường mật, những lời mị dân, những lời nịnh bợ, lôi cuốn chúng ta vào mê hồn trận, khiến chúng ta kiêu ngạo, lầm lạc nâng mình lên, sẽ bị ngã nhào: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: Chính Ta đây, anh em chớ theo họ”.

3- Sức tàn phá thứ ba là sự khủng bố của con người: Sau giai đoạn lừa gạt thì đến khủng bố. Theo kẻ lừa gạt hay không theo thì cũng chết: “Anh em sẽ bị mọi người thù ghét”. Người ta sẽ bắt và ngược đãi anh em … Họ sẽ giết một số trong anh em. Sự khủng bố này được mô tả bằng thù ghét, bắt bớ, ngược đãi, xét xử, tù đầy và giết đi. Sự khủng bố này do tất cả mọi hạng người từ vua chúa quan quyền, các người của hội đường, của nhà tù, và đau xót hơn nữa, có cả những người thân yêu ruột thịt như cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu nhúng tay vào bắt nộp. Họ khủng bố anh em chỉ vì lý do anh em đã được theo Thầy, vì danh Thầy. “Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy”. Đây là cơ hội bằng vàng để anh em nên giống Thầy: Thầy đã biến thân xác loài người nên thân xác Đấng Cứu thế, đã biến khổ giá thành giá cứu chuộc, khiến lưỡi đòng thâu qua trái tim cho máu và nước chảy ra rửa sạch tội loài người, cho trái tim mở ra yêu thương loài người, cho mạo gai thành triều thiên, cho sự chết thành sự sống lại. Anh cũng phải biến thân xác mình thành của lễ hy sinh, biến ngược đãi thành yêu thương, biến khổ hình thành Thánh giá, để làm chứng về Thầy. Cố kiên trì làm chứng như thế, anh em mới giữ được mạng sống mình trong vinh quang.

Lạy Chúa Giêsu cuộc đời con lênh đênh giữa những sức tàn phá của biển đời. Xin cho con luôn nghe được tiếng Chúa nói: “Thầy đây đừng sợ” để con vững tin sống xứng đáng là chứng nhân của Người. Amen.

2. Tận thế

Bất cứ cái gì có khởi đầu thì cũng có kết thúc. Vũ trụ đã có một giây phút khởi đầu thì tất nhiên cũng sẽ có một ngày kết thúc. Nhờ phương pháp Radio Activity mà người ta biết được gần chắc chắn sự xuất hiện của mỗi vật. Bất cứ vật nào cũng phóng ra một thứ ánh sáng gọi là phóng xạ. Chất phóng xạ này với thời gian sẽ dần dần biến thành một lượng chì. Người ta đo phóng xạ, biết được số lượng chì tăng lên mà định được thời gian xuất hiện. Riêng với trái đất, các nhà khoa học đã tính ra có chừng khoảng 4 đến 6 tỷ năm rồi.

Điều chắc chắn là Kinh Thánh đã nói đến việc Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ từ hư không, nghĩa là bởi không mà dựng nên cho có. Và như vậy, vũ trụ cũng sẽ có một điểm tận cùng nữa. Thực thế nhìn vào vũ trụ chúng ta thấy các năng lượng đang cạn dần. Ánh sáng mặt trời cũng đang giảm đi. Bao nhiêu nguồn năng lượng quăng mỏ cũng trở thành kham hiếm. Không khí chúng ta thở cũng đang bị ô nhiễm bởi khói động cơ. Các dòng nước chúng ta uống cũng bị những chất phế thải làm cho trở nên bẩn thỉu. Còn về phương diện luân lý, dường như con người mỗi ngày một sa đoạ và băng hoại. Vũ trụ đang tàn héo. Những gì đáng yêu, đáng yêu thì đang trở thành kham hiếm. Thế giới cần phải được tái tạo và đổi mới.

Đây không những là niềm hy vọng của chúng ta mà còn là niềm hy vọng của muôn vật nữa. Thật ra trước khi tổ tông chưa phạm tội, đất đai là bạn đường của họ. Nhưng từ khi bất tuân lệnh Chúa, đất đai trở nên kẻ thù, và trổ sinh gai góc. Khi con người phạm tội, trái đất nơi con người cư ngụ cũng bị xấu lây. Nó không còn là nơi đem lại hạnh phúc cho con người.

Chúng ta nên nhớ: Thiên Chúa đã dựng nên muôn loài trong tình trạng tốt lành nguyên tuyền. Những lời chúc dữ đã giáng xuống chỉ vì loài người chúng ta. Cho nên khi loài người được cứu độ, trái đất cũng được chúc phúc. Vì vậy Công đồng đã nói: Toàn thể vũ trụ cùng với loài người đạt tới sự viên mãn trong Đức Kitô vì vũ trụ liên kết mật thiết với con người và nhờ con người đạt tới cùng đích của nó. Và như vậy chúng ta có thể nói: Như tội của Adong đã thay đổi vũ trụ thế nào thì vinh quang của Đức Kitô sẽ canh tân nó. Ngày tận cùng vũ trụ đối với Đức Kitô sẽ là ngày quang lâm vinh hiển, ngày phán xét và hoàn tất công việc tạo dựng, đối với nhân loại, đó là ngày vinh quang phục sinh, còn đối với tạo vật, đó là ngày canh tân và đổi mới.

Và như vậy chương trình tạo dựng sẽ trở về điểm nguyên thuỷ của nó là chính Thiên Chúa.

3. Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

Chủ Ðề: Ngày của Chúa

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Sống theo năm Phụng vụ giống như làm một cuộc hành trình. Hôm nay đã gần hết năm Phụng vụ, Hội Thánh mời gọi chúng ta nghĩ đến lúc tận cùng của thời gian, còn được gọi là ngày tận thế.

Chúng ta thường nghe người ta bàn tán về ngày tận thế, với những hiện tượng khủng khiếp và những tai ương rất đáng sợ. Nhưng thực ra ngày đó có khủng khiếp không, khi nào nó đến và chúng ta phải chuẩn bị đón ngày đó ra sao? Đó là những vấn đề mà Lời Chúa hôm nay sẽ giải thích cho chúng ta.

Nhưng trước hết, như thường lệ, chúng ta hãy bắt đầu Thánh lễ bằng tâm tình sám hối lội lỗi chúng ta.

II. Gợi ý sám hối

Chúng ta sống như đám lục bình trôi, nghĩa là không nghĩ đến chặng cuối của cuộc hành trình đời mình.

Nhìn lại một năm phụng vụ sắp hết, chúng ta thấy mình đã có rất nhiều thiếu sót.

Trước những hoàn cảnh khó khăn, chúng ta đã chán nản và hầu như mất lòng tin.

III. Lời Chúa

  1. Bài đọc I (Ml 3, 19-20a)

Trích đoạn này nói về “Ngày của Chúa”. Thuật ngữ này được Thánh Kinh dùng khá nhiều, với ý nghĩa là lúc Thiên Chúa chính thức ngự trị. Thánh Kinh mô tả ngày đó bằng những hình ảnh của văn thể khải huyền với ý nghĩa ám chỉ, nên ta không nên hiểu theo nghĩa đen. Ý nghĩa chính của những hình ảnh đó là:

Khi đó Thiên Chúa sẽ tiêu diệt những thế lực gian tà.

Và Khi đó Ngài sẽ cho những người công chính được vinh quang.

  1. Đáp ca (Tv 97)

Tv này cũng nói tới Ngày Thiên Chúa đến. Đó không phải là một ngày khủng khiếp – có khủng khiếp chăng là chỉ đối với những kẻ gian ác – mà là một ngày hân hoan. Bởi đó tác giả Thánh vịnh kêu mời mọi người – và cả vũ trụ vạn vật – hãy đàn hát lên để mừng đón Chúa.

  1. Tin Mừng (Lc 21, 5-19)

Đoạn này mở đầu một đơn vị văn chương được gọi là “diễn từ chung luận” (Lc 21, 5-36), trong đó Chúa Giêsu bàn đến những vấn đề “chung kết” của lịch sử là: sự sụp đổ của thành Giêrusalem, ngày tận thế, và ngày Đức Kitô quang lâm. Diễn từ này khó hiểu, một phần vì được viết theo văn thể khải huyền, phần khác vì 3 biến cố trên được nhắc đến xen lẫn nhau khiến người đọc không biết rõ những câu nào nói đến biến cố nào.

* các câu 5-6: Chúa Giêsu tiên báo thành Giêrusalem sẽ bị tàn phá.

* câu 7: thính giả liên tưởng tới ngày tận thế nên hỏi Chúa Giêsu khi nào thì tận thế và có dấu nào báo trước không.

* câu 8-11: Chúa Giêsu không muốn cho biết những dấu chỉ rõ ràng về ngày tận thế. Bởi đó trước tiên Ngài khuyên người ta chớ tin vào những dấu chỉ mà người này người nọ đưa ra cho rằng sắp tận thế. Kế đó Ngài dùng những hình ảnh khải huyền khó hiểu để nói một cách úp úp mở mở rằng khi tận thế thì những gì xưa nay người ta cho là chắc chắn đều sẽ lung lay.

* các câu 12-19: Chúa Giêsu báo trước cho môn đệ mình biết rằng có một thời kỳ Hội Thánh sẽ bị bắt bớ. Rồi Ngài dạy họ phải sống thế nào trong thời kỳ đó: hãy coi những khốn khó đó là dịp để ta làm chứng cho Chúa (câu 13); đừng sợ phải bào chữa thế nào, vì Ngài sẽ ban cho họ sự khôn ngoan mà kẻ thù không thể nào thắng được (cc 14-15); đừng sợ khi bị bắt bớ và thù ghét, vì vẫn có Chúa quan phòng trong tất cả những hoàn cảnh éo le đó (cc 16-18); phải kiên trì (câu 19).

  1. Bài đọc II (2 Tx 3, 7-12)

Nhiều tín hữu trong giáo đoàn Thêxalônica nghĩ rằng sắp đến ngày tận thế, cho nên họ lười biếng không muốn làm gì nữa cả.

Thánh Phaolô khiển trách điều đó. Ngài lấy chính bản thân ngài ra làm gương: không bao giờ sống vô kỷ luật, không ăn bám vào ai, trái lại luôn làm lụng vất vả. Phaolô đã nói một câu rất nặng: “Ai không làm việc thì đừng ăn”

IV. Gợi ý giảng

* 1. Thời gian

Trong kho tàng văn hóa phong phú của Trung Quốc, người ta đọc thấy một câu truyện răn đời sau đây: Ngày xửa ngày xưa có một vị hoàng đế, tuổi đã quá bát tuần, mà vẫn chưa đọc được một quyển sách nào của các bậc thánh hiền. Bộ sách mà nhà vua thèm khát được đọc là Bộ Sách Lịch Sử Loài Người

Nhưng khốn nỗi cuộc đời nhà vua, từ mái đầu xanh đến lúc tóc đã bạc phơ, răng đã long, không lúc nào được rảnh rỗi thư nhàn. Cuộc đời nhà vua luôn luôn sống trên lưng ngựa, nằm sương gối tuyết trên bãi chiến trường của thời chinh chiến loạn lạc. Nay chinh phục nước này, mai ngăn chặn nước kia xâm lăng. Đôi mắt của nhà vua chỉ nhìn thấy có gươm giáo và máu lửa. Nhà vua rất ân hận vì trong suốt cuộc đời chưa có hân hạnh được đọc một trang sách của các bậc thánh hiền.

Nay chiến tranh đã tạm yên, đất nước đã thanh bình. Nhà vua muốn dành thời gian còn lại để đọc cho kỳ được Bộ Sách Lịch Sử Loài Người, để tìm hiểu xưa nay con người sống để làm gì, chết đi về đâu?! Nhưng phiền một nỗi, tuổi của nhà vua đã quá cao, mà bộ sách lại quá dầy. Biết sức mình không thể đọc hết bộ sách, nhà vua ra lệnh cho viên quan ngự sử làm thay mình công việc khó khăn ấy. Với sự giúp đỡ của một ủy ban 50 ngườiø, viên quan ngự sử bắt đầu miệt mài đọc sách.

Sau 10 năm cắm cúi đọc, viên quan ngự sử và ủy ban đã có thể tóm tắt Bộ Sách Lịch Sử Loài Người thành 10 cuốn và mang vào triều đình dâng lên nhà vua. Nhưng vừa nhìn thấy 10 cuốn sách và đo lường tuổi tác sức khỏe của mình, nhà vua lại cảm thấy không còn đủ sức đọc hết bộ sách, dù đã được rút ngắn thành 10 cuốn!! Nhà vua bèn ra lệnh cho viên quan ngự sử và ủy ban tiếp tục làm việc thêm một thời gian nữa.

Sau 5 năm làm việc thêm, viên quan ngự sử và ủy ban đã tóm lược Bộ Sách Lịch Sử Loài Người thành 5 cuốn. Nhưng khi ủy ban và viên quan ngự sử mang 5 cuốn sách vào cung ra mắt nhà vua thì cũng chính là lúc nhà vua đang hấp hối trên giường bệnh. Biết mình không còn sống bao lâu, cũng không thể nào đọc được dù chỉ một trang sách, nhà vua mới thều thào nói với viên quan ngự sử hãy tóm tắt Bộ Sách Lịch Sử Loài Người chỉ trong một câu thôi.

Lúc đó viên quan trưởng ban tu sử mới tâu trình nhà vua như sau: “Hạ thần xin vâng mệnh. Lịch Sử Loài Người từ khai thiên lập địa đến giờ là con người sinh ra để khổ rồi chết!!” Nhà vua gật đầu. Đôi môi khô héo của nhà vua bỗng nở một nụ cười mãn nguyện rồi tắt thở!! Giữa lúc ấy, viên quan ngự sử cũng nấc lên mấy tiếng rồi trút hơi thở cuối cùng!!

Nhìn lại một năm sắp qua, với biết bao nhiêu biến cố vì khổ đau, bệnh tật, tai nạn, động đất, lũ lụt, chiến tranh, chết chóc đã xảy ra với loài người cũng như cho gia đình và bản thân, có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng muốn đi đến kết luận bi quan như viên quan ngự sử của nhà vua trong câu truyện răn đời trên đây: “Con người sinh ra để khổ rồi chết! “.

Chúng ta có bi quan nhìn đời như viên quan ngự sử không? Hoàn toàn không!! Chúng ta không chối bỏ thực tại của khổ đau, của bệnh tật, của chết chóc. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa tạo dựng nên thế giới, tạo nên chúng ta là để cho chúng ta được sống và sống dồi dào. Cho nên hướng đi lịch sử của loài người không phải là ngõ cụt của sự chết mà là sự sống. Bên kia của thất bại khổ đau, bên kia của bệnh tật chết chóc, cuộc sống vẫn còn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống.

Vì thế không có tâm tình nào thích hợp cho chúng ta trong những ngày cuối năm này cho bằng Cảm Tạ và Phó Thác. Cảm Tạ và Phó Thác tất cả cho Thượng Đế, vì Ngài là Cha của chúng ta, luôn yêu thương và quan phòng cuộc đời chúng ta. Cảm Tạ và Phó Thác vì Ngài là Thượng Đế của Tình Thương, của sự Sống. Cảm Tạ và Phó Thác vì Ngài là Đường, là Sự Thật và là Lẽ Sống của chúng ta. Cảm Tạ và Phó Thác cho Thượng Đế, vì nhờ Ngài cuộc sống này vẫn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống.

Trong muôn vàn khổ đau của cuộc sống, chúng ta hãy hân hoan lập lại: Thượng Đế Yêu Thương Tôi Như Chỉ Có Một Mình Tôi Trên Cõi Đời Này. Đừng bao giờ chúng ta quên một chân lý căn bản soi sáng cho đời ta: “ Chúng ta không chỉ sinh ra cho cuộc sống đời tạm này mà cho cuộc sống vĩnh cửu đời sau “. Đó chính là Niềm Tin của Bạn, của tôi và của mọi người. (Linh mục Trần Quý Thiện)

* 2. Trắc nghiệm đức tin

Một hôm vua Ai Cập đang đứng chiêm ngưỡng những công trình mà ông cho xây dựng tại thành phố Êliôpôli, bỗng có cụ già râu tóc bạc phơ không biết từ đâu tới đã cười ngạo nghễ và thách thức nhà vua:

– Hãy bỏ lại tất cả và cút đi!

Nhà vua giận tím gan, nhưng ông ta đã nén giận và hỏi:

– Hỡi lão già, ngươi là ai mà dám ra lệnh cho ta cách hỗn xược như thế? Không lẽ ngươi quyền thế hơn ta?

Ông lão quả quyết:

– Đúng thế! Vì ta là thời gian.

Nghe đến tên thời gian, vua Ai Cập tái mặt, té nhào khỏi ngai vàng. Cùng với ông, cả đế quốc Ai Cập cũng sụp đổ.

Lão già Thời Gian cũng rảo qua khắp các đế quốc trên địa cầu. Lão đi đến đâu, các đế quốc đều rơi như sung rụng.

Nhưng ngày kia, người ta bỗng thấy xuất hiện tại đồi Vatican một cụ già khác. Lão già Thời Gian cũng một giọng điệu vô cùng hách dịch đến trước thành Vatican gầm lớn:

– Ta là Thời Gian đây!

Tiếng gầm thét đó làm rung chuyển trái đất, nhưng lại không làm cho cụ già trên đồi Vatican mảy may lo sợ. Cụ bình tĩnh đáp:

– Còn ta, ta chính là Vĩnh Cửu! Xuyên qua các thế hệ ta phải đại diện cho lòng chung thuỷ của Thiên Chúa đối với con người.

*

Không có gì là vĩnh cửu dưới bầu trời này. Nhiều người Do thái nhìn ngắm và khen ngợi đền thờ Giêrusalem nguy nga tráng lệ, được xây cất bằng đá cẩm thạch nguyên khối, mỗi cây cột cao hơn 12 mét. Đền thờ được trang trí với cây nho lớn bằng vàng ròng, quyên góp từ các tín hữu (2 Mcb 2, 13). Mặt tiền đền thờ được dát bằng vàng lá, mỗi khi mặt trời lên, nó phản chiếu ánh sáng chói loà rực rỡ. Nhìn từ xa, đền thờ trông như một núi tuyết khổng lồ vì màu trắng toát của đá cẩm thạch. Chính vẻ huy hoàng lộng lẫy của đền thờ mà người ta tưởng nó sẽ tồn tại vĩnh viễn.

Chúa Giêsu đã đánh đổ quan niệm sai lầm đó. Người loan báo đền thờ sẽ bị tàn phá một cách thảm hại, không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào. Quả thật, tiên báo này đã hoàn toàn ứng nghiệm năm 70 sau Công nguyên, khi vua Titô đem quân bao vây, tàn sát dân chúng, bắt những tù binh, và thiêu huỷ đền thờ thành ra hoang vu tiêu điều.

Mọi người kinh hoàng sợ hãi khi nghe Chúa Giêsu loan báo việc đền thờ bị phá huỷ. Họ xin Người cho biết thời gian và điềm báo trước. Nhưng Người không cho biết gì thêm lại còn dựa vào lời tiên báo trên để nói về ngày tận thế. Trước ngày đó, sẽ có những thử thách đức tin.

Có thể có những ngôn sứ giả hiệu, mạo danh Chúa để mê hoặc tín hữu, hay loan báo thời gian đã đến gần để làm mất niềm hy vọng nơi những kẻ tin.

Có thể có những cuộc bách hại các tín hữu, thậm chí cả sự chia rẽ trong các gia đình.

Nhưng Người khuyên họ: “Đừng sợ”. Hãy tin tưởng trong phó thác và bền đỗ trong đức tin, vì Thiên Chúa luôn quan phòng chở che cho những ai cậy trông nơi Người.

Đối với Chúa Giêsu, bách hại và thử thách không phải là điều đáng sợ mà là một cơ may, để người tin hữu có dịp “làm chứng”: để cho kẻ bách hại hiểu biết đức tin của người tín hữu, và để người tín hữu chứng tỏ lòng tin vào Thiên Chúa trong cơn thử thách.

Quả thật, Thiên Chúa muốn niềm tin phải là một hành động tín nhiệm sâu xa nơi Người, một biểu lộ tín thác tuyệt đối vào Người, cho dù có phải chịu thử thách đớn đau nhất, kể cả sự chết. Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen có viết: “Để trắc nghiệm đức tin của ta, cần phải xem phản ứng lúc đau khổ và thử thách, chứ không phải lúc thuận buồm xuôi gió”.

*

Lạy Chúa, đức tin không giữ cho chúng con khôi chết, cũng không cứu chúng con thoát đau khổ, nhưng đức tin chính là hiến dâng mạng sống.

Xin ban thêm đức tin cho chúng con, để trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng con vẫn luôn kiên trì giữ vững niềm tin vào Chúa. Amen. (Thiên Phúc)

* 3. Làm chứng trong gian khổ

  1. Trong bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu nói đến nhiều cảnh gian truân khổ sở như chiến tranh, bắt bớ, thiên tai, chia rẻ v. v. Nhưng cái đáng chú ý là Chúa Giêsu nói rằng “Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy”. Tại sao? Thưa vì:

Trong lúc tối tăm người ta mới cần ánh sáng hơn

Trong thời buổi đầy dối gian, người ta mới cần sự thật hơn

Trong xã hội đầy hận thù, người ta mới cần tình thương hơn

Trong chiến tranh người ta mới cần đến hòa bình hơn.

Thời đại chúng ta ngày nay là thời văn minh hưởng thụ, người ta chạy theo vật chất, người ta chỉ quan tâm đến đời này. Một bầu không khí thờ ơ với tôn giáo bao trùm khắp nơi. Có thể nói, đây là thời kỳ khủng hoảng đức tin. Nhưng chính trong thời kỳ này, từ tận thâm tâm, con người mới cần đức tin hơn. Vì thế đây là thời gian tốt để tín hữu chúng ta làm chứng về đức tin của mình.

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng nói đến sự sụp đổ của thành Giêrusalem. Ngày nay cũng có nhiều sụp đổ: không chỉ là sụp đổ một ngôi nhà mà sụp đổ rất nhiều thứ. Chỉ có một điều bền vững không bao giờ sụp đổ thôi, đó là tình thương của Chúa. Vì vậy, đây cũng là cơ hội cho tín hữu chúng ta làm chứng về tình thương của Thiên Chúa.

* 4. Kiên trì

Cuối bài Tin Mừng này, sau khi nói đến những gian truân thử thách, Chúa Giêsu khuyên chúng ta hãy kiên trì: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình”.

Kiên trì là gì? Thưa là dù gặp phải gian truân thử thách, ta không lùi bước, không nản lòng, không bỏ cuộc nhưng vẫn luôn giữ vững niềm tin và lý tưởng sống của mình.

Anne Frank là một cô bé Do Thái bị bọn Đức quốc xã bắt giam trong trại tập trung. Nơi đó cô bé đã chứng kiến biết bao cảnh khổ, cô đã thấy rất nhiều người vì quá khổ mà trở thành mất nhân phẩm, mất lý tưởng, mất đức tin. Chính cô cũng khổ và nhiều lần hoang mang tự hỏi: có công lý thật không, có Thiên Chúa không? Nhưng sau những lúc giao động ấy, cô cương quyết giữ vững niềm tin của mình: cô tin rằng dù biểu hiện bên ngoài của con người có gian ác thế nào đi nữa thì trong thâm tâm con người vẫn tốt; dù hiện tại có xấu xa đến đâu đi nữa nhưng cuối cùng sự thiện sẽ chiến thắng sự ác; dù hiện nay xem ra Thiên Chúa vắng mặt, nhưng chính Thiên Chúa là người có tiếng nói cuối cùng. Những suy nghĩ ấy được cô ghi lại trong một quyển nhật ký. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, quyển “Nhật ký Anne Frank” đã được xuất bản, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, và nổi tiếng khắp thế giới.

Điều gì giúp người ta kiên trì? Trước hết đó là xác tín về lẽ phải của mình; thứ hai là gương can đảm chịu đựng của những người khác; và thứ ba, nhưng quan trọng nhất, là đức tin tôn giáo. Gandhi nói: “Người nào tin vào Thiên Chúa thì không bao giờ thất vọng, bởi vì người đó biết rằng cuối cùng thì sự thật sẽ chiến thắng”.

Chúa Giêsu bảo các môn đệ “Anh em đừng sợ”. “Đừng sợ” không có nghĩa là không có cảm giác sợ, mà là không để cho cảm giác ấy đè bẹp mình, nhưng mình phải làm chủ cảm giác ấy và chiến thắng nó. “Anh hùng không phải là người không biết sợ mà là người chiến thắng nỗi sợ” (Solzhenitsyn)

  1. Chuyện minh họa

a/ Thời gian

Người kia rất tham việc, không dám lãng phí một phút nào.

Trên đường ra phố, ông dự định xem sẽ mua sắm ở cửa hiệu nào. Trong cửa hiệu, ông dự định nơi ông sẽ đi dạo. Trong lúc đi dạo, ông dự định nơi ông sẽ đến ăn. Trong khi ăn món chính, ông dự định sẽ ăn món tráng miệng gì. Trong khi tráng miệng, ông nhìn bảng danh mục để chọn xe buýt về nhà.

Ông chẳng bao giờ chú ý đến những gì ông đang làm. Ông luôn chuẩn bị cho những sự việc kế tiếp.

Một ngày kia ông phải đối đầu với điều mà ông không chuẩn bị là cái chết. Khi sắp chết, ông kinh ngạc về cuộc đời trống rỗng và vô nghĩa của mình. Ông chẳng bao giờ sống với hiện tại.

b/ Ngã lòng

Nếu bạn cậy vào sức riêng của mình thì chẳng lạ gì bạn sẽ sớm ngã lòng. Kẻ khiêm nhường thực thì không ngã lòng, kẻ ngã lòng không phải là người khiêm nhường thật bởi vì người ấy cậy dựa vào một cái gì đó ngoài Chúa” (J. N. D. “Scripture Truth”)

c/ Kiên trì

Một người đưa tin đến một lâu đài cũ kỹ và anh lấy búa gõ cửa. Không ai trả lời. Anh lại gõ và chỉ có tiếng vang dội lại. Nhưng anh biết có người trong nhà, anh nhìn thấy họ qua cửa sổ. Giận sôi lên, anh cầm búa và lấy hết sức giáng mạnh vào cửa hai ba chục lần.

Một khuôn mặt cau có ngó qua lỗ then cửa và lịch sự hỏi xem người khách muốn vào không.

Vị khách nói như mê sảng: “Này ông, tôi vào được không? Chẳng lẽ ai muốn vào cũng phải gõ như tôi?”.

– Ồ, ông biết đấy: Có nhiều trẻ ở xung quanh đến đây, chúng gõ cửa một vài lần rồi bỏ chạy, nên chúng tôi biết là không cần để ý đến chúng. Nhưng khi nghe ông gõ cửa, tôi thực sự thấy ông muốn vào. Vì thế tôi ra mở cửa.

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, kiên nhẫn chịu đựng thử thách trong tinh thần phó thác, tin tưởng vào Chúa quan phòng, là những việc mà mỗi Kitô hữu cần ghi nhớ và thực hiện trong cuộc sống thường ngày. Luôn vững tin vào Chúa là Cha từ bi nhân hậu, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

  1. Hội thánh không ngừng khuyên nhủ con cái mình đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa trung thành / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phần Dân Chúa luôn xác tín rằng / Chúa luôn trung tín thực hiện những gì người đã hứa ban.
  2. Thiên tai / đói khát / bệnh tật / làm khổ biết bao người trên thế giới / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho chúng ta thời tiết thuận hòa / mùa màng bội thu / để mọi người được sống yên ổn / hạnh phúc và an bình.
  3. Tất cả mọi sự đều qua đi / không có gì là tồn tại vĩnh viễn ngoài một mình Thiên Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết ý thức về tính mau qua của mọi thực tại trần gian / để đừng quá bám víu vào danh vọng / địa vị và của cải ở trần gian này.
  4. Chúa Giêsu mời gọi người Kitô hữu hãy tích trữ kho tàng trên trời / là nơi không có trộm cắp / không hề bị mối mọt gậm nhấm / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết tích trữ kho tàng trên trời bằng những việc lành phúc đức của mình.

Chủ tế: Lạy Chúa, giữa bao dông tố của cuộc sống thường ngày, chúng con thường hay hoang mang dao động và đôi khi tuyệt vọng nữa, vì đức tin của chúng con còn quá yếu kém. Vậy xin Chúa thương ban thêm đức tin cho chúng con. Chúng con cầu xin

VI. Trong Thánh Lễ

– Trước kinh Lạy Cha: Dù chúng ta đang sống trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng chúng ta vẫn an lòng, vì chúng ta biết có Thiên Chúa là Cha luôn yêu thương và chăm sóc chúng ta. Chúng ta hãy cùng cầu nguyện với Ngài:

VII. Giải tán

Hôm nay chúng ta đã biết cuộc hành trình dương thế sẽ dẫn chúng ta đến đâu. Vậy chúng ta hãy can đảm tiếp tục cuộc hành trình, với sự đồng hành yêu thương của Chúa. 

4. Ngày cuối cùng

Julianô là một vị hoàng đế Rôma. Ông lên ngôi vua vào năm 360. Ông là người rất ghét bỏ Kitô giáo, nên đã khởi xướng một phong trào bắt bớ và cấm cách. Ông lấy nhà thờ làm chùa miếu. Cấm chỉ việc rao giảng Tin Mừng, giết hại các tín hữu. Ông muốn làm cho lời tiên báo của Chúa Giêsu về đền thờ Giêrusalem là sai là không đúng sự thật. Trong Phúc Âm Chúa Giêsu đã bảo: Sẽ tới một ngày không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào. Mặc dù điều này đã xảy ra vào năm 70 khi tướng Titus đem quân vây hãm Giêrusalem. Thế nhưng ông vẫn ra lệnh xây lại một đền thờ để dâng kính các thần minh ngay tại địa điểm của đền thờ Giêrusalem. Theo các sử gia cho biết thì khi đào bới để đặt nền móng cho ngôi đền thờ mới này, những người thợ đã kinh hoàng và sợ hãi vì một sức nóng bốc lên từ lòng đất khiến họ không thể nào tiếp tục công việc.

Sự kiện này nói lên một sự thật đã bị quên lãng đó là Chúa Giêsu đã tiên báo và những lời tiên báo của Ngài đã ứng nghiệm. Chẳng hạn Ngài tiên báo về những đau khổ, sự chết, sống lại, lên trời của Ngài cũng như việc Chúa Thánh Thần hiện xuống. Những lời tiên báo này đã ứng nghiệm từng chi tiết. Ngài cũng đã nói trước về sự phản bội của Giuđa, về việc Phêrô trốn chạy. Tiếp đến, Ngài còn tiên báo về những biến cố lịch sử mà trí khôn loài người không thể nào thấy trước, chẳng hạn như về sự tàn phá Giêrusalem. Và điều này đã xảy ra đúng như lời Ngài đã nói. Chúa Giêsu cũng đã tiên báo về việc Giáo Hội được phát triển trên khắp thế giới, cũng như bị bách hại nhưng sẽ mãi mãi trường tồn. Và hai ngàn năm lịch sử đã chứng mình điều ấy.

Từ những sự kiện kể trên, chúng ta đi tới một kết luận như sau: Với những lời tiên báo đã được ứng nghiệm, chúng ta có thể tin chắc chắn rằng lời tiên báo của đoạn Tin Mừng hôm nay cũng sẽ được thực hiện, đó là thế giới vật chất này sẽ có ngày tận cùng. Lát nữa đây trong kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng: Người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ không bao giờ cùng. Và ngay sau khi truyền phép, chúng ta cũng tuyên xưng mầu nhiệm cao cả ấy: Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến.

Vậy chúng ta phải làm gì để chuẩn bị không phải chỉ cho ngày cuối cùng của trời và đất, nhưng còn cho ngày cuối cùng của cuộc đời chúng ta, trong đó chúng ta sẽ được gặp gỡ với Chúa.

5. Giêrusalem

Qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay Chúa Giêsu đã tiên báo về sự tàn phá đền thờ Giêrusalem, cũng như về ngày tận cùng của vũ trụ vật chất.

Trước ngày trọng đại ấy sẽ có những biến cố xảy ra: nào là các tiên tri giả xuất hiện, nào là chiến tranh, động đất, bệnh tật và đói kém, nào là bắt bớ và cấm cách cho những người môn đệ của Chúa. Tuy nhiên điều làm cho chúng ta tò mò và băn khoăn hơn cả đó là bao giờ thì ngày trọng đại ấy sẽ đến?

Đứng trước câu hỏi này Chúa Giêsu đã không trả lời, vì đó là một bí mật, một mầu nhiệm trong quyền năng của Thiên Chúa. Thế nhưng chúng ta thường phản ứng ra sao, chúng ta thường sống như thế nào trước vấn đề này? Trải qua dòng lịch sử chúng ta có thể ghi nhận được ba loại phản ứng, ba kiểu sống khác nhau.

Kiểu sống thứ nhất của những người cho rằng đó chỉ là một câu chuyện viển vông, bịa đặt. Họ sống như là không phải chết bao giờ, và vũ trụ này sẽ tồn tại mãi mãi. Họ bình thản lặn ngụp trong tội lỗi và thoả sức thực hiện những mưu đồ gian tham của mình, để rồi cuối cùng, bừng con mắt dậy thấy mình tay không, họ sẽ mất cả chỉ lẫn chài, cả vốn lẫn lãi, cả đời này lẫn đời sau.

Kiểu sống thứ hai của những người cho rằng ngày tận thế sắp đến nơi rồi, và họ trở thành như tê liệt, không còn thiết tha gì đối với cuộc sống hôm nay. Việc quan trọng đối với họ đó là chờ đợi ngày Chúa sẽ đến. Đây cũng là thái độ của một số các tín hữu sơ khai, làm cho họ trở thành bi quan và chán nản.

Kiểu sống thứ ba phải là kiểu sống của chúng ta. Vậy thì kiểu sống ấy như thế nào? Trước hết chúng ta xác tín rằng: Bản thân chúng ta cũng như vũ trụ vật chất này, đã có một khởi đầu thì cũng sẽ có một kết thúc. Bao giờ thì kết thúc ấy sẽ xảy ra, thiết tưởng chúng ta không cần biết đến, điều quan trọng trong giây phút hiện tại đó là chúng ta phải biết chuẩn bị để chúng ta sẽ không trở thành những kẻ bị thua lỗ khi ngày trọng đại ấy xuất hiện.

Chúng ta chuẩn bị bằng cách khử trừ thói hư tật xấu. Chúng ta chuẩn bị bằng cách thực hiện những hành động bác ái yêu thương giúp đỡ những người chung quanh. Làm như thế, chúng ta tích góp phần xây dựng cho xã hội này mỗi ngày một tốt đẹp, cũng như nhờ đó mà chúng ta thực hiện được mục đích cuối cùng của đời sống chúng ta, là sẽ được trở về cùng Chúa trên quê hương Nước Trời.

Như thế, niềm tin tưởng vào Chúa lại đến trong vinh quang, sẽ không làm cho chúng ta bị tê liệt, hay thất vọng chán ngán, trái lại sẽ làm cho chúng ta thêm hăng hái, thêm phấn khởi để chu toàn những bổn phận trần thế của mình bởi vì hiện tại sẽ xác định cho tương lai. Ngày mai của chúng ta có tươi sáng hay không là do tất cả những gì chúng ta đang cố gắng xây dựng trong hiện tại, trong hôm nay, bởi vì tương lại phải được bắt đầu từ hiện tại và ngay mai phải được bắt đầu từ hôm nay.

6. Kitô hữu mang niềm hy vọng

Tại sao Chúa nói đến ngày tận thế, một bí ẩn đối với chúng ta? Vả lại chúng ta phải quan tâm đến thời buổi chúng ta đang sống, chúng ta có bổn phận hoàn thiện xã hội bây giờ, phải làm sao cho trên địa cầu có thêm công bằng, tình thương, bình đẳng trong sự phân phối an lạc hạnh phúc, thêm tự do về phương diện vật chất và tinh thần. Nói cho đúng, bài giảng của Đức Giêsu về ngày tận thế đặt vấn đề mục tiêu và cứu cánh mọi nền văn minh. Chúng ta có tưởng tượng được không một nền văn minh sản xuất những công trình tuyệt tác, kể cả những công trình hiến dâng Thiên Chúa như Đền Thờ Giêrusalem, những công trình có thể tồn tại mãi mãi, không có gì phá huỷ được? Chừng nào sẽ xuất hiện một nền văn minh không có chiến tranh? Không có nạn đói? Không chống đối thù nghịch Thiên Chúa và Đức Kitô của Người? Chúa Giêsu trả lời ngay: không. Vậy thì Kitô hữu mọi thời đại phải mang niềm hy vọng đích thật, phải tin tưởng vào tác động Thiên Chúa trong tâm hồn mình để có sức mạnh mang hy vọng vào xã hội đương thời. Chúa phán:

1) “Hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt”.

Ai ai cũng thấy lòng mình se thắt lại vì khao khát hy vọng. Rất nhiều sứ giả tìm đến đề nghị những giải đáp lừa gạt hy vọng. Thậm chí, một số đội danh nghĩa Đức Kitô. Chúa bảo chúng ta hãy coi chừng bọn lái buôn hy vọng hão huyền. Đừng để bị lừa gạt, nghĩa là hãy an tâm vững chí trong sự thật. Hoạt động để “Danh Thánh” được nhìn nhận trong hy vọng, trong nền văn minh là đem chất men sự thật vào hy vọng con người, vào văn minh nhân loại. “Danh Thánh” là tên Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc thế gian. Chúng ta đóng góp vào công cuộc cứu vớt một nền văn minh tuỳ theo chúng ta nhiều hay ít dùng thực tại đời sống, lời nói, hoạt động Tông đồ, làm chứng rằng con người chỉ thành toàn trong quan hệ với Đức Giêsu. Người thờ phụng Thiên Chúa và hy sinh mạng sống cho nhân loại anh em Người.

2) “Người ta sẽ bách hại các ngươi”.

Đem niềm hy vọng Kitô giáo vào thế gian tất nhiên gặp những phản ứng thù nghịch của thế gian. Chúa bảo, đó là điều không tránh được. Môn đệ không trọng hơn Thày. Kitô hữu có thể khiếp sợ, có thể áy náy dễ gặp những giây phút yếu đuối. Chúa bảo, một sự hiện diện siêu phàm ngự trị trong tâm hồn Kitô hữu. Chính Đức Giêsu ban cho môn đệ cách ăn nói và sự khôn ngoan, nhưng thế gian đáp lại bằng ác tâm ác ý. Tuy nhiên có những tâm hồn ngay thẳng đáp ứng bằng một thái độ bắt đầu tìm hiểu. Đức Giêsu bảo môn đệ chớ có chuẩn bị tự bào chữa, nghĩa là Kitô hữu không được thấy vậy mà sinh ra âu lo áy náy, nhưng phải đặt ra cho mình nghĩa vụ trở nên tài giỏi, có khả năng tuỳ sức mình tỏ ra cho thế gian thấy mình đã suy nghĩ nhiều về đức tin của mình, sống đức tin cách ý thức, lấy đức tin làm giá trị đời mình. Kitô hữu phải làm chứng rằng đức tin tăng giá trị đời sống con người mình. Kitô hữu có thể trông cậy vào Đức Kitô, xin Người trợ giúp mình trong nỗ lực nói trên để đối phó với những chống đối.

7. Ngày của Chúa

Sẽ có ngày cả thế giới và vũ trụ này biến đổi. Bao giờ? Thế nào? Và có những dấu hiệu nào báo trước không?

Vào khoảng năm 450 trước Công Nguyên, Ngôn Sứ Malaki đã ra đi tuyên sấm. Ông loan báo “ngày của Chúa” sẽ đến, nhằm làm sống lại niềm hy vọng của Dân Chúa sau cuộc hồi hương của Babylon trở về. Đất nước bị dân ngoại chiếm đóng, đền thờ vẫn hoang tàn, tôn giáo bị biến chất, lễ bái trở nên vô vị. Từ đó, dân chúng chán nản ngã lòng. Phải chăng Thiên Chúa đã bỏ dân Ngài. Phải chăng Thiên Chúa đã không trung thành giữ lời Ngài đã hứa?

Ngôn sứ Malaki loan báo: Đừng tưởng mọi sự sẽ như thế nầy mãi. Thiên Chúa không bỏ Dân Ngài. Sự ác không thống trị mãi… Ngày của Chúa sẽ đến. Ngày ấy sẽ là ngày khủng khiếp, ngày tiêu diệt. Tất cả những kẻ kiêu căng cà làm điều ác sẽ như rơm rạ làm mồi cho ngọn lửa…

Nhưng “Ngày của Chúa” sẽ là ngày đầy hy vọng của những người công chính. Bởi vì là ngày họ sẽ trông thấy công bình và thánh thiện chiến thắng vĩnh viễn tội ác, ngày mà các dân sẽ nối gót Dân Chúa tiến về với Chúa, tiến lên Đền Thánh mới.

Như vậy, lời tiên tri của Ngôn sứ Malaki hôm nay không phải là lời tiên báo ngày tận thế. Đó là lời tuyên báo ngày Chúa đến cứu độ Dân Ngài, sau những thời gian thử thách nặng nề nhằm kêu gọi Dân Chúa hãy luôn hy vọng và tin tưởng vào ngày cứu độ.

Tin Mừng hôm nay minh họa Ngày cảu Chúa với những hình ảnh của Cựu Ước: vẫn là cảnh trời long đất lở, lửa cháy phừng phừng, trừng phạt kẻ dữ, thưởng công người lành. Sau biến cố năm 70, Đền thờ Giêrusalem từng là niềm kiêu hãnh của người Do Thái, đã không còn hòn đá nào trên hòn đá nào: mọi thứ đều sụp đổ, tiêu tan… đối với các Kitô hữu đầu tiên, phải chăng đó là dấu chỉ ngày tận thế? Phải chăng Nước Trời mà Chúa Kitô loan báo đã gần kề? Họ tưởng như vậy và nôn nóng chờ đợi. Nhưng rồi thời gian không thiên vị ai, và cảnh chờ đợi sốt ruột kia cứ kéo dài mãi không ngừng. Họ bắt đầu chán nản thất vọng.

Chúa Giêsu đã không gắn liền thời gian cùng tận với những hiện tượng xã hội và thiên nhiên xảy ra. Ngài không đến để báo trước ngày tận thế như những tiên tri giả. Trái lại, Ngài bảo: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lường gạt”, vì sẽ có người tự xưng là tiên tri và tiên đoán ngày tận thế. “Các con đừng tin theo họ”. Cũng đừng căn cứ vào các tai biến mà cho là ngày tận thế sắp đến rồi, vì chiến tranh, thiên tai, địa họa là những tai biến thời nào cũng có. “Các con đừng sợ, vì những biến cố ấy phải xảy đến trước, nhưng chưa phải là hết đời ngay đâu”.

Cả những cuộc bách hại Giáo Hội cũng không phải là dấu hiệu ngày tận thế. Chúa đã tiên báo: “Người ta sẽ cầm tù các con, sẽ đưa các con ra trước tòa án”. Nhưng Chúa lại căn dặn: “Đừng lo sợ, vì đó là cơ hội để các con làm chứng cho Thầy”. Thiên Chúa sẽ trợ lực chúng con, “nếu chúng con can trường, kiên trì, bền đỗ đến cùng, các con sẽ cứu được sự sống của các con”.

Chắc chắn thế giời sẽ có ngày tận cùng. Năm 2000 chăng? Không ai biết được. Ai khẳng định điều đó, người ấy là tiên tri giả. Ai coi chiến tranh, động đất, ôn dịch, đói kém là dấu hiệu bắt đầu tận thế để rồi chán nản, buông xuôi, bỏ bê công việc, thay vì hoạt động góp phần ổn định đời sống, đem lại công lý, hòa bình, ấm no, hạnh phúc, người đó là tiên tri giả hiểu, láo khoét, lừa bịp thiên hạ. Nhưng đáng tiếc là khi gặp khó khăn, đau khổ, người ta lại dễ tin theo các “tiên tri dỏm” đó!

Người Kitô hữu chúng ta, trước mọi nghịch cảnh, phải sống theo niềm tin đích thực vào Thiên Chúa. Phải luôn trung thành trong đức tin của mình và làm chứng cho Nước Chúa, Nước vĩnh cửu, bất diệt ở bên kia thế giới nầy. Phải kiên trì, trung thành trong bổn phận hằng ngày thì mới mong kiên vững trước nghịch cảnh. Nếu không kiên trì trong việc tầm thường hằng ngày thì khó mà kiên trì trong lúc gặp nguy biến.

Nếu ngay bây giờ, từng giây phút, chúng ta cố gắng sống trung thành trong đức tin, trong bổn phận, thì “khi nào tậnt hế?”, điều đó không thành vấn đề. Vì “ai kiên trung bền đỗ đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát và được sống đời đời”.

Vậy, đừng bận tâm khi nào tận thế, hãy lo sống hiện tại và kiên trì. Đừng tin những lời đồn đại xuyên tạc trước những biến cố khủng khiếp của lịch sử. Điều quan trọng duy nhất là trung thành làm chứng cho Chúa. Mỗi người chỉ có hôm nay để xây dựng ngày mai và cuộc sống vĩnh cửu.

8. Sự chịu đựng

Anne Frank là một cô gái Do Thái tuổi độ mười ba sống ở Amsterdam trong những năm đầu của chiến tranh Thế giới II. Khi quân Đức quốc xã săn lùng mọi người Do Thái, cô và gia đình trốn tránh. Tất cả có bảy người, họ ẩn núp hai năm liền trong một tầng gác sát mái nhà. Ở đó, họ chờ đợi từng ngày trong nỗi sợ hãi cái ngày mà mật vụ Đức khám phá ra họ.

Trong thời gian này, Anne viết nhật ký mà sau khi chiến tranh chấm dứt cha cô đã tìm thấy. Cuốn nhật ký ấy được dịch ra nhiều thứ tiếng và có được hàng triệu độc giả. Trong đó, Anne diễn tả những suy nghĩ và những cảm nhận của cô với sự già dặn vượt quá tuổi cô. Trong một đoạn đáng để ý. Cô viết:

“Đám trẻ chúng tôi phải chịu khó khăn gấp đôi để giữ vững tinh thần, trong một thời đại khi mọi lý tưởng tan vỡ và bị huỷ hoại, khi người ta bộc lộ khía cạnh tồi tệ nhất của mình và không biết mình có tin vào chân lý, lẽ phải và Thiên Chúa hay không”.

“Quả là một điều kỳ diệu vì tôi đã không đánh mất mọi lý tưởng của tôi, bởi vì chúng có vẻ rất phi lý và không thể thực hiện được. Tuy nhiên tôi vẫn giữ chúng vì dù sự việc có ra sao, tôi vẫn tin rằng trong thâm tâm con người vẫn tốt lành.

“Tôi nhìn thế giới đang trở lại với sự dã man, tôi luôn nghe thấy sự đe doạ đến gần, nó sẽ huỷ hoại chúng ta, tôi có thể cảm thấy sự đau khổ của hàng triệu con người nhưng nếu tôi nhìn lên trời cao, tôi nghĩ rằng mọi người muốn lên đó, sự tàn bạo này sẽ chấm dứt, hoà bình và yên tĩnh sẽ trở lại”.

Đây là một sự diễn tả lạ lùng về đức tin và hy vọng ở một thời đại với biết bao biến động. Anne không bao giờ nhìn thấy hoà bình và sự yên tĩnh trở lại. Một ngày nọ tiếng gõ cửa chết người vang lên ở cửa. Cô và gia đình cô bị đưa đến trại tập trung Nelsen. Năm 1944, cô chết ở đó.

Điều gì giúp cho một người chịu đựng? Sự đúng đắn của chính nghĩa cho người ta sức mạnh to lớn. Gương sáng và sự nâng đỡ của những người khác cũng là một sự hỗ trợ to lớn. Và rồi, có một sự giúp đỡ tốt hơn hết, đó là đức tin. Đức tin mang lại cho con người niềm xác tín rằng điều thiện hảo sau cùng sẽ chiến thắng và Thiên Chúa sẽ có tiếng nói quyết định.

“Một người với một hạt giống đức tin vào Thiên Chúa không bao giờ mất hy vọng, bởi vì người ấy luôn luôn tin vào chiến thắng sau cùng của chân lý” (Gandhi).

Trong một thế giới với quá nhiều biến động xã hội và chính trị, những người có đức tin thường bị coi là ngây thơ vô tích sự và không thích hợp. Tuy nhiên, chúng ta không nên sợ hãi thái độ hoài nghi và vô liêm sỉ, nhưng tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để giữ vững lập trường.

Đức Giêsu nói với các môn đệ của Người: “Anh em đừng sợ”. Người ta không phải là một con người nếu không cảm thấy sợ hãi khi bị nguy hiểm đe doạ. Vấn đề không phải là sợ hãi mà là vượt qua sợ hãi. “Một người không biết sợ không phải là anh hùng; người nào vượt qua sợ hãi mới là anh hùng” (Solzhenitsyn).

Đức Giêsu nói: “Bởi sự chịu đựng, anh em sẽ không mất linh hồn”.

Đức tin chỉ có thể được làm chứng trong đau khổ và chịu đựng. Đức Giêsu biểu lộ sự nhẫn nại và chịu đựng khi Người vác thập giá. Sự chịu đựng là cái mà tất cả chúng ta cần có. Chịu đựng có nghĩa là tham dự khổ đau của Đức Kitô. Nếu chúng ta tham dự khổ đau của Người, chúng ta sẽ tham dự vinh quang của Người.

9. Chia sẻ sự bất lực của chúng ta

Đức Giêsu đã nhìn thấy thành Giêrusalem sẽ bị tàn phá. Người tiên đoán Đền Thờ lộng lẫy sẽ chỉ còn là đống gạch vụn. Đối với người Do Thái bình thường điều đó dường như không thể xảy ra, thậm chí không thể nghĩ đến được. Đây không phải là một công trình bình thường. Đền Thờ tượng trưng cho toàn bộ hệ thống thờ phượng của người Do Thái.

Lời tiên tri của Chúa Giêsu đã thành sự thật từng chữ một. Giêrusalem đã bị người La Mã tàn phá năm 70 trước công nguyên sau một cuộc bao vây kéo dài. Một triệu người đã bị giết chết hoặc bị chết đói trong cuộc vây hãm kéo dài. Đền Thờ bị đốt cháy đến tận nền móng.

Đức Giêsu muốn cứu thành Giêrusalem mà Người yêu mến nhưng không thể làm được. Có lần Người đã khóc và nói rằng: “Giêrusalem! Giêrusalem! Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái các ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu”.

Thật khủng khiếp khi ở bên giường một người bạn đang đau khổ hoặc hấp hối mà không thể nào cứu được người ấy. Chúng ta cảm thấy không tương xứng. Thông thường chúng ta không còn gì để nói nữa. Nhưng biết rằng Đức Giêsu chia sẻ sự bất lực của chúng ta quả là một điều an ủi. Người cảm thấy như chúng ta cảm thấy, nhưng Người không bỏ đi. Trong những trường hợp như thế, tác vụ duy nhất của chúng ta đơn thuần là có mặt. Cả khi mà điều đó có khó khăn, đó là việc quan trọng và quý giá. Giống như Đức Maria ở dưới chân thập giá, chúng ta phải ở lại với người đau khổ và hấp hối. Một sự hiện diện làm yên lòng và nâng đỡ người có ý nghĩa bằng cả thế giới đối với người chịu đau khổ.

Leonard Cheshire là một phi công nổi tiếng trong Chiến tranh Thế giới II. Cuối cuộc chiến, ông rời bỏ nước Đức. Ông cảm thấy ghê tởm chiến tranh và muốn làm một điều gì đó tốt đẹp hơn với phần còn lại của cuộc đời mình. Sau cùng, ông quyết định cống hiến đời mình để giúp những người bệnh tật. Người đầu tiên được gởi đến ông là một người đàn ông có tên là Arthur. Ông này sắp chết vì bệnh ung thư. Cheshire cảm thấy hoàn toàn bất lực, nhưng ông quyết định đem lại điều duy nhất mà ông có thể, đó là tình bằng hữu.

Suốt mấy tháng cuối đời của Arthur, một tương quan cao thượng đã phát triển giữa hai người. Arthur chịu nhiều đau đớn. Những đêm dài là những lúc cô đơn nhất. Khi cơn bệnh trở nên trầm trọng. Cheshire đặt một tấm nệm bên ngoài phòng ngủ của Arthur và ngủ ở đó. Ông đưa cho Arthur một cái chuông nhỏ cầm tay mà Arthur có thể rung lên bất cứ lúc nào ông này cần.

Có một người hiện diện bên cạnh mình, quan tâm đến mình một cách sâu xa tạo nên một thế giới khác cho Arthur, cả khi sự hiện diện ấy không cắt đi cơn đau hoặc làm ngưng lại tiến trình dẫn đến cái chết. Dù Arthur là người đơn sơ nhưng ông đã chết với phẩm cách to lớn. Vốn là một người Công giáo bỏ đạo, trong những tháng cuối đời, ông đã tìm lại được đức tin, và có được sự thanh thản làm cho ông trở thành một con người khác hẳn con người ông vẫn thế cho tới lúc đó. Nhờ có gương sáng của Arthur, chính Cheshire đã trở thành con người Công giáo.

Khi người đau bệnh biết có người chăm sóc mình điều đó tạo nên một thế giới khác cho người ấy. Nó cứu người ấy khỏi viễn cảnh đáng sợ phải chết một mình và bị bỏ rơi.

Để làm loại tác vụ ấy, người ta không cần có các kỹ năng đặc biệt. Chỉ cần có lòng yêu thương. Những người thật sự yêu thương sẽ đem lại cho người đau bệnh sức mạnh không thể đo lường hết, chỉ bằng việc họ có mặt, đứng kế bên. Và trong một thế giới ở đó tính vị kỷ lan tràn thì yêu thương là cách tốt nhất để làm chứng cho Đức Kitô và cho Tin Mừng.

10. Cơn sốt quang lâm – JM. Lam Thy ĐVD.

Khi chia sẻ bài Tin Mừng hôm nay (Lc 21, 5-19), đã có nhiều người cho rằng thành Giê-ru-sa-lem mà Đức Giê-su nói đến là thành phố hiện thực tại Do-thái, để rồi từ đó loay hoay tìm những chứng cớ lịch sử có thật (chẳng hạn như sự kiện thành Giê-ru-sa-lem bị cháy vào năm 70 sau công nguyên) để chứng minh lời tiên báo của Đức Giê-su là chính xác. Thực ra, đọc kỹ bài giàng về “sự sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem” sẽ thấy Đức Giê-su dùng hình ảnh có thật trước mắt mọi người để nói đến một hình ảnh ẩn dụ bên trong, đó là ngày tận thế, ngày cánh chung của vũ trụ. Mặc dù Đức Giê-su có nói: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” (Lc 21, 6), nhưng đó chỉ là cách Người muốn cho mọi người hình dung được ngày chung cuộc, mà ngày đó sẽ có những điềm báo trước (Lc 21, 8-19).

Trước hết, Lời dạy của Đức Ki-tô tiên báo gần đến ngày cánh chung sẽ xảy ra bắt bớ, ngược đãi, gông cùm, tù tội, mà nhiều khi chính những người thân cận nhất lại là những kẻ tố cáo, bắt nộp con em mình cho quan quyền hành tội. Cũng giống như đã có lần Đức Ki-tô dạy: “Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà.” (Mt 10, 35-36). Khi nghe bài Tin Mừng hôm nay, đã có ý kiến phản biện: Cha mẹ nào mà chẳng thương con, “Có người nào khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn?” (Mt 7, 9-10), chẳng lẽ khi con mình bị trù dập, đã không che giấu thì chớ, mà lại còn nhẫn tâm đi tố cáo, bắt con em mình nộp cho thế lực thù địch hay sao?

Vì thế, mới thoạt nghe Lời Chúa, thấy có vẻ nghịch lý, khó lòng chấp nhận được, và chính điều này tác động mãnh liệt vào bộ não khiến người ta phải dốc tâm suy niệm để tìm cho ra đáp án. Quả thực, khi phải dốc hết tâm trí ra suy nghĩ về một vấn đề nào đó thì việc đầu tiên là phải nhìn lại mình trước, nhiên hậu nhìn lại những người thân cận và môi trường mình đang sống, đang hoạt động. Nhìn lại để thấy được không hẳn là viết đơn hoặc đến thẳng quan quyền tố cáo con em mình mới là “tố cáo, bắt nộp” (Nhiều khi chỉ vì cha mẹ chưa tin vào những điều con mình đã tin, ra mặt không chấp nhận hành động của con em mình, tạo nên một hố sâu chia rẽ trong gia đình, thì như thế đã là “vạch áo cho người xem lưng”, khiến kẻ thủ ác có cớ để bắt bớ, tra tấn con em mình). Nhìn lại còn để cảnh giác và sẵn sàng đối phó, chớ không phải nhìn lại để trốn chạy, chối bỏ. Nhìn lại còn để thấy được sự yếu đuối, mỏng giòn của bản thân cũng như những người thân cận ruột thịt và rộng ra là của con người thụ tạo trên trái đất này, nên rất có thể “Kẻ thù của mình chính là người nhà” (Mt 10, 36).

Như thế, nhìn lại mình chính là để vượt thắng được chính mình, mà muốn được vậy thì phải biết kiên trì cầu nguyện xin ơn soi sáng để nhìn cho rõ con đường chân lý mà mình sẵn sàng nhập cuộc, đồng thời cầu nguyện xin Thần Khí Chúa tăng thêm sức mạnh và dũng khí để sẵn sàng đối mặt với nghịch cảnh, chấp nhận hy sinh để bảo vệ đức tin, bởi chính “Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy. Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được” (Lc 21, 13-15).

Điều cần suy gẫm tiếp theo, đó là vấn đề cho đến tận ngày nay, những Lời tiên báo của Đức Giê-su (“Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có hững trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện” – Lc 21, 10-11) đã thực sự xảy ra và xảy ra thật nhiều trên trái đất này. Và tất nhiên, Lời cảnh báo của Người về những người thân cận ruột thịt (cha mẹ, anh em, họ hàng, bè bạn) sẽ bắt nộp con em của mình vì đã dám làm chứng cho niềm tin về một Đấng Ki-tô Cứu Thế, cũng đã xảy ra không ít. Chính Đức Giê-su cũng đã từng bi quan về thời suy tàn ấy: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8). Vì người mang danh có đức tin thì vô số, nhưng người thật sự tin – nghĩa là thể hiện đức tin bằng cuộc sống – thì chẳng bao nhiêu. Chính Thánh Phao-lô cũng nói với tín hữu Ti-mô-thê: “Anh hãy biết điều này: vào những ngày sau hết sẽ có những lúc gay go. Hình thức của đạo thánh thì họ còn giữ, nhưng cái chính yếu thì đã chối bỏ” (2Tm 3,1.5).

Bài đọc 2 CN. XXXIII/TN-C hôm nay, với tiêu đề “Đề phòng lối sống vô kỷ luật: cơn sốt quang lâm!” có đoạn viết: “Thật vậy, khi còn ở với anh em, chúng tôi đã chỉ thị cho anh em: ai không chịu làm thì cũng đừng ăn! Thế mà chúng tôi nghe nói: trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào. Nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô, chúng tôi truyền dạy và khuyên nhủ những người ấy hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân.” (2Tx 3, 10-12). Quả thật vào thời gian cận kề ngày chung thẩm, sẽ xảy ra đủ thứ chuyện “vô kỷ luật” khiến thế giới như lên cơn sốt và cao trào nhất sẽ là giờ phút “Con Người quang lâm”, chẳng hiểu lúc ấy “liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8).

Tóm lại, biết lắng nghe, biết suy niệm và luôn biết tỉnh thức, sẵn sàng thực hành theo Lời Chúa dạy, “ hãy làm việc thiện, đừng sờn lòng nản chí!” (2Tx 3, 13), thì mọi kẻ thù hung ác, mọi thử thách nghiệt ngã, mọi chông gai nguy hiểm, cũng đều có thể vượt qua, bởi “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu.” (Lc 21, 17-18). Câu kết của bài giảng (“Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình” – Lc 21, 19) đã cho thấy ai kiên trì cầu nguỵên để có thể kiên trì đối diện với mọi thử thách nghiệt ngã, vượt thắng được nghịch cảnh, vượt thắng được chính mình, thậm chí hy sinh cả tính mạng mình cho chân lý mình đang theo đuổi, thì sẽ gặt hái được vinh quang trong ngày sau hết. “Giữ được mạng sống mình” phải được hiểu là cuộc sống mai hậu trên Nước Trời vinh hiển. Chúa đã từng dạy hãy kiên trì trong cầu nguyện (dụ ngôn “Người bạn quấy rầy”, “Người đàn bà quấy rầy”), nay Người lại dạy hãy kiên trì làm nhân chứng cho Tin Mừng cứu độ. Rõ ràng trong tư tưởng hay trong hành động, ở bất cứ hoàn cảnh nào, anh hãy biết KIÊN nhẫn bảo TRÌ đức tin mà anh đã chọn cho cuộc đời mình.

Ôi! Lạy Chúa! Chúng con “đang sống những ngày đen tối” (Ep 5, 15) đúng như lời Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-sô. Cúi xin Chúa ban Thần Khí cho con để con biết “cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan”, đồng thời luôn luôn “biết tận dụng thời buổi hiện tại” (Ep 5, 16), sẵn sàng đối diện với mọi thử thách nghiệt ngã, nhất là những thử thách đến từ chính “cái tôi” ích kỷ, đớn hèn của con. Hy vọng với cách đó, con sẽ luôn luôn sẵn sàng trở về với Chúa bất cứ giây phút nào. Ôi! “Lạy Thiên Chúa là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo, được phụng sự Chúa quả là một hạnh phúc tuyệt vời: xin cho chúng con tìm được niềm vui khi hết dạ trung thành với Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguỵên nhập lễ Chúa nhật XXXIII mùa Thường niên).